Chiến tranh Iran thực sự giống với Chiến tranh Việt Nam
Cuộc chiến của Trump mang danh “kiệt tác của những vĩ nhân”, nhưng lại thiếu đi những người giỏi nhất và sáng suốt nhất.
Nguồn: Michelle Spear, “Yes, the Iran War Really Is Similar to Vietnam,” Foreign Policy, August 14, 2026.
Người dịch: Trần Tú Trân - Lê Huỳnh Thanh Xuân - Bùi Hải Yến
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Một trong những quan niệm bền vững nhất về các vấn đề của nhân loại là định kiến cho rằng: “Những ai không thể nhớ được quá khứ sẽ bị kết án phải lặp lại nó”.
Triết lý thông thái này đến từ nhà triết học kiêm nhà thơ người Mỹ gốc Tây Ban Nha George Santayana. Dù vậy, có rất nhiều biến thể tương tự xuất hiện sau đó, dù đúng hay sai, vẫn bị gán cho nhiều nhà tư tưởng và chính trị gia khác nhau, từ Edmund Burke cho đến Winston Churchill.
Tuần trước, tôi đã tìm đọc lại The Best and the Brightest (tạm dịch: Những người giỏi nhất và sáng suốt nhất) - kiệt tác thời hiện đại của cố nhà báo David Halberstam. Được xuất bản lần đầu vào năm 1972, tác phẩm thuật lại sự ngạo mạn của hai đời chính quyền tổng thống John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson – những người đã đẩy nước Mỹ vào một cuộc xung đột vô nghĩa và không thể thắng tại Việt Nam. Và khi Washington một lần nữa sa vào vòng xoáy chiến tranh, người đọc lại càng nhận thấy tính đúng đắn từ một loạt lời nhắc nhở đanh thép về sự thông thái trong nhận định của Santayana.
Rất nhiều điều đã thay đổi về nước Mỹ và thế giới kể từ cuộc chiến tại Việt Nam, một thảm kịch nhân đạo và một sự thất bại thảm hại từ góc nhìn về quyền lực của Mỹ. Thế nhưng, phần lớn những điểm cơ bản của sự mù quáng trong nhận thức mà Washington từng phơi bày khi sa vào cuộc xung đột năm xưa nay lại hiển hiện rõ mồn một trong cuộc chiến Iran ngày nay. Chúng thậm chí còn trầm trọng và rõ ràng hơn bao giờ hết.
Người ta có thể bắt đầu ngay từ chính tựa đề cuốn sách của Halberstam. Thoạt nhìn, cái tên tưởng chừng là một lời ca ngợi dành cho những bộ óc kiệt xuất mà Kennedy đã chiêu mộ và tin cậy để tham vấn về chính sách đối ngoại. Nhưng thực chất, tiêu đề ấy lại mang ý nghĩa châm biếm. Khi xét trên những thành tựu lẫy lừng mà dàn cố vấn đạt được trước khi bước chân vào vòng thân cận của tổng thống, họ quả là những con người ưu tú đến mức phi lý và nhiều người trong số đó vẫn tiếp tục làm việc dưới thời Johnson.
Điển hình là McGeorge Bundy, ông tốt nghiệp thủ khoa tại trường nội trú danh tiếng Groton. Tại đây, ông từng giả vờ “đọc” thành tiếng một bài tập về nhà mà bản thân còn chẳng buồn viết ra; ông đã ứng biến và trình bày những suy nghĩ được sắp xếp trong đầu một cách mạch lạc đến mức khiến cả giáo sư lẫn các bạn học phải sững sờ. Sau chuỗi thành tích xuất sắc tại Yale và Harvard, Bundy được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Nghệ thuật và Khoa học của Đại học Harvard ở tuổi 34, thời điểm mà hầu hết các học giả vẫn đang chật vật để đạt được vị trí biên chế trọn đời. Về sau, ông nắm giữ vị trí Cố vấn An ninh Quốc gia dưới thời hai đời tổng thống, Kennedy và sau đó là Johnson.
Một gương mặt kiệt xuất khác là Robert McNamara - cựu lãnh đạo Tập đoàn Ford Motor – người từng giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời cả hai vị tổng thống. Là một tri thức kỹ trị điển hình, ông có niềm tin mạnh mẽ vào khả năng giải quyết tất cả những vấn đề hóc búa dựa vào lý trí ứng dụng, trí thông minh và học vấn – nói cách khác, là sức mạnh trí tuệ thuần tuý – có thể khuất phục và giải quyết mọi vấn đề, ngoại trừ những trường hợp hy hữu nhất. Không dừng lại ở đó, McNamara còn nổi tiếng với “siêu năng lực” xử lý dữ liệu sắc bén, đi kèm với một trí nhớ huyền thoại.
Như Halberstam viết, “Một lần, (Robert McNamara) đã ngồi ở CINCPAC (một buổi thuyết trình quân sự) trong vòng tám giờ và xem hàng trăm, hàng ngàn trang trình chiếu, báo cáo về những thứ đã và sẽ được triển khai ở Việt Nam. Và sau 7 giờ, ông ấy cuối cùng cũng phát biểu “Dừng máy chiếu lại. Trang này, số 869, trái ngược với trang số 11”. Tất cả mọi người đều bị ấn tượng, một vài người đã thoáng sợ.
Tổng thống Mỹ đương nhiệm, Donald Trump, rất thích nhấn mạnh rằng cuộc chiến hiện nay không thể so sánh với cuộc chiến tại Việt Nam vì nó ngắn hơn nhiều, dù lúc đầu ông ấy đã khoác lác rằng chiến dịch tại Iran sẽ kết thúc trong một vài tuần. Tuy nhiên, rất khó để bất kỳ ai ngày nay đọc Halberstam mà không thừa nhận rằng hai cuộc chiến có quá nhiều điểm tương đồng.
Mỗi cuộc chiến đều được theo đuổi bởi những mục đích không rõ ràng và thường xuyên bị thay đổi. Chúng đều tiến triển trên cơ sở của những kế hoạch được vẽ ra bởi những con người bị chi phối bởi ý thức hệ nhưng lại thiếu đi kiến thức về đất nước mà Mỹ quyết định tiến hành chiến tranh. Quá trình lên kế hoạch cho từng cuộc chiến phần lớn diễn ra trong bí mật, với rất ít những công khai về chiến lược hay mục tiêu, chứ đừng nhắc đến những tham vấn với Quốc hội hay các đồng minh. Cả hai cuộc chiến gần như không có chỗ để những lời phản đối được cất tiếng. Chúng thể hiện niềm tin không thể bị thay đổi vào khả năng công nghệ và hỏa lực áp đảo vượt trội của Mỹ trong việc đảm bảo chiến thắng. Nhà Trắng đã không suy tính cẩn thận về việc chiến thắng sẽ trông như thế nào cũng như không dự tính được khi nào và làm thế nào rút lui. Và khi những bi kịch lần lượt xuất hiện, mỗi bên dường như đã bị lừa dối bởi chính những lời hoa mỹ mà mình tạo ra. “Khả năng hùng biện dường như đã trở thành mục đích tự thân”, Halberstam viết trong lời tựa được cập nhật cho ấn bản năm 1993 của tác phẩm kinh điển này.
Đặc biệt, đoạn này đã khiến tôi rùng mình ớn lạnh:
Một điều khác mà tôi nhận ra về đội ngũ của Kennedy và Johnson là dù sở hữu danh tiếng lẫy lừng như những nhà quản lý tài ba và lý tính, họ thực chất lại là những nhà quản trị rất tồi. Họ nghĩ rằng mình làm rất tốt, và luôn thao thao bất tuyệt về việc giữ cho các lựa chọn của mình luôn rộng mở, ngay cả khi cứ ngày qua ngày, tuần qua tuần, các sự kiện thực tế diễn ra đã từng bước khép chặt các lựa chọn đó. Sự thật là lịch sử… là một vị quan toà vô cùng nghiệt ngã; và từ đầu đến giữa thập niên 60, khi chúng ta đưa ra những quyết định mang tính định mệnh ấy, chúng ta hầu như không còn bất kỳ lựa chọn nào nữa.
Halberstam nói thêm rằng, những lựa chọn đó bao gồm, hoặc là, phải dũng cảm đối mặt với thất bại rồi rời khỏi nơi đó, hoặc là đưa thêm binh lính để tiếp tục chiến đấu trong một cuộc chiến không bao giờ thắng.
Cuối cùng, mỗi cuộc chiến đều thiếu mục đích đạo đức rõ ràng. Trong trường hợp của Trump, mục tiêu mà Washington đưa ra bao gồm những thứ chưa từng có tiền lệ trong nền chính trị Mỹ: một tuyên bố sẽ xóa bỏ nền văn minh của một đất nước - nền văn minh Iran. Thậm chí khi phải chống lại Nhật Bản, nơi mà bom nguyên tử đã được sử dụng lần đầu (và cho đến nay, cũng là lần duy nhất) trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chưa bao giờ các mục tiêu chiến tranh của Mỹ phải lún sâu vào trạng thái viển vông, hư ảo như thế này.
Mặc dù có rất nhiều điểm giống nhau giữa quá khứ và hiện tại, tôi lại cho rằng những khác biệt – nếu có – thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Halberstam đã chỉ trích đội ngũ Kennedy rằng dù bằng cấp, thành tích của từng thành viên trên giấy tờ có nổi bật đến đâu, rất ít người trong số họ có kinh nghiệm thực tiễn được khổ luyện trong thời gian dài như những quan chức từng điều hành các quan hệ đối ngoại của Mỹ trong thời hậu chiến: “Những người đã đưa ra các quyết định khó khăn ban đầu của Chiến tranh Lạnh từng trải qua một giai đoạn học việc dài hơn và toàn diện hơn rất nhiều trong nghề nghiệp của họ”.
Ai trong số đội ngũ kém cỏi của Trump đã giành được danh tiếng xứng đáng như một nhà quản lý tài giỏi hay lý trí? Chắc chắn không phải là Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth - đồng cấp của McNamara, người mà dường như được Trump lựa chọn đứng đầu Lầu Năm Góc với niềm tin sai lầm rằng một người “được tạo ra để dành cho truyền hình” cũng đồng thời “được rèn giũa trong ngành truyền hình” [VSF: ở đây tác giả bài viết chơi chữ, ý nói ông không tin Pete Hegseth – vốn là người dẫn chương trình của Fox News – được đào tạo bài bản hoặc có thâm niên và chuyên môn sâu để vận hành tốt Bộ Quốc phòng]. Lại càng không thể là Marco Rubio - cựu nghị sĩ kiêm ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia, nhưng lại chưa từng quản trị một tổ chức lớn hay thực thi quyền lực điều hành nào trước đây. Cũng không phải là vị phó tổng thống có khả năng biến hóa, J.D. Vance, người leo lên chức vụ cao nhanh chóng như Bundy, nhưng phần lớn lại nhờ vào danh tiếng của việc viết một cuốn hồi ký. Tôi xin miễn bình luận thêm về những chức vụ ngoại giao mặc định (ex officio) được giao cho những kẻ nghiệp dư thuần tuý như con rể của Trump, Jared Kushner, và người bạn doanh nhân của ông, Steve Witkoff.
Ngày nay, người mà đối với họ việc “nói suông” dường như là mục đích tự thân lại chính là bản thân tổng thống – người từng khoe khoang một cách phi lý rằng mình hiểu biết về các vấn đề quân sự hơn bất kỳ một vị tướng nào, và biết cách quản trị những vấn đề của châu Âu hơn chính người châu Âu. Sự kiêu ngạo của nước Mỹ là một phần trong chẩn đoán cốt lõi của Halberstam về sự thất bại thảm hại tại Việt Nam, nhưng chưa bao giờ sự ngạo mạn ấy lại lớn đến mức này.
Gác lại các mục tiêu chiến lược, cách điều hành một cuộc chiến tồi tệ đã tự nó nói lên tất cả. Trump và Hegseth đã khẩn thiết kêu gọi Quốc hội tăng chi tiêu quân sự lên 1.500 tỷ USD, một mức tăng đáng kể so với ngân sách vốn đã khổng lồ của Lầu Năm Góc. Sau những niềm tin ngờ nghệch rằng Iran có thể bị đánh bại bởi các cuộc không kích, một bài học [mà họ] chưa học được từ cuộc chiến tại Việt Nam, Mỹ đang cạn kiệt các hệ thống tên lửa công nghệ cao tốn kém - vũ khí được cho là tạo nên nền tảng quân sự vượt trội của nước này. Điều này không chỉ khiến đất nước mất đi năng lực duy trì một chiến dịch quân sự cường độ cao chống lại Iran, mà còn rơi vào thế bị động đầy nguy hiểm ở các khu vực khác trên thế giới, từ Đông Á cho tới sườn phía đông của châu Âu.
Trong khi đó, tinh thần quân lính trên các tàu chiến Mỹ đang thực thi lệnh phong tỏa đường biển đối với Iran đã trở nên tồi tệ đến mức nhiều thành viên thuỷ thủ đoàn của tàu USS Abraham Lincoln được báo cáo là đã cố gắng nhảy xuống biển để tự sát sau hơn 250 ngày lênh đênh trên biển.
Chưa đầy hai năm trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, Trump vừa khoe khoang về việc đã “tái thiết” các lực lượng vũ trang của Mỹ, vừa cam kết xây dựng lực lượng vũ trang Mỹ hùng mạnh đến mức trong tương lai, không một quốc gia nào dám thách thức Washington.
Iran, một cường quốc tầm trung với 93 triệu dân, dường như vẫn chưa nhận được thông điệp đó. Trong cuộc phỏng vấn với PBS News Hour tuần này, Chuẩn tướng Iran Mohammad Reza Naqdi đã tuyên bố: “Chúng tôi chưa từng trải qua một cuộc chiến thực sự để tích lũy kinh nghiệm thực tế nhằm học cách đối đầu với Mỹ. Trong năm tháng qua, chúng tôi đã học được cách làm điều đó. Chúng tôi cũng đã thấy quân đội Mỹ yếu hơn những gì chúng tôi từng hình dung.”
Đáng lo ngại, nhận định này có vẻ đáng tin hơn phần lớn những gì người ta nghe thấy từ Washington dạo gần đây.
Về tác giả:
Howard W. French là một cây viết bình luận tại tạp chí Foreign Policy, giáo sư tại Trường Cao học Báo chí thuộc Đại học Columbia và là một cựu phóng viên nước ngoài kỳ cựu. Cuốn sách mới nhất của ông có tựa đề The Second Emancipation: Nkrumah, Pan-Africanism, and Global Blackness at High Tide (Tạm dịch: Cuộc giải phóng thứ hai: Nkrumah, Chủ nghĩa toàn Phi và Cao trào của phong trào người da đen toàn cầu).
Bùi Hải Yến là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Yến là chính sách đối ngoại Việt Nam, ASEAN, cạnh tranh Mỹ - Trung. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Trần Tú Trân là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Trân là chính sách đối ngoại Việt Nam, quyền lực mềm, quan hệ kinh tế quốc tế. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Lê Huỳnh Thanh Xuân là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Xuân là chính sách đối ngoại Việt Nam, ASEAN, Đông Bắc Á. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Nguồn: Michelle Spear, “Yes, the Iran War Really Is Similar to Vietnam,” Foreign Policy, August 14, 2026.
Người dịch: Trần Tú Trân - Lê Huỳnh Thanh Xuân - Bùi Hải Yến
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Một trong những quan niệm bền vững nhất về các vấn đề của nhân loại là định kiến cho rằng: “Những ai không thể nhớ được quá khứ sẽ bị kết án phải lặp lại nó”.
Triết lý thông thái này đến từ nhà triết học kiêm nhà thơ người Mỹ gốc Tây Ban Nha George Santayana. Dù vậy, có rất nhiều biến thể tương tự xuất hiện sau đó, dù đúng hay sai, vẫn bị gán cho nhiều nhà tư tưởng và chính trị gia khác nhau, từ Edmund Burke cho đến Winston Churchill.
Tuần trước, tôi đã tìm đọc lại The Best and the Brightest (tạm dịch: Những người giỏi nhất và sáng suốt nhất) - kiệt tác thời hiện đại của cố nhà báo David Halberstam. Được xuất bản lần đầu vào năm 1972, tác phẩm thuật lại sự ngạo mạn của hai đời chính quyền tổng thống John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson – những người đã đẩy nước Mỹ vào một cuộc xung đột vô nghĩa và không thể thắng tại Việt Nam. Và khi Washington một lần nữa sa vào vòng xoáy chiến tranh, người đọc lại càng nhận thấy tính đúng đắn từ một loạt lời nhắc nhở đanh thép về sự thông thái trong nhận định của Santayana.
Rất nhiều điều đã thay đổi về nước Mỹ và thế giới kể từ cuộc chiến tại Việt Nam, một thảm kịch nhân đạo và một sự thất bại thảm hại từ góc nhìn về quyền lực của Mỹ. Thế nhưng, phần lớn những điểm cơ bản của sự mù quáng trong nhận thức mà Washington từng phơi bày khi sa vào cuộc xung đột năm xưa nay lại hiển hiện rõ mồn một trong cuộc chiến Iran ngày nay. Chúng thậm chí còn trầm trọng và rõ ràng hơn bao giờ hết.
Người ta có thể bắt đầu ngay từ chính tựa đề cuốn sách của Halberstam. Thoạt nhìn, cái tên tưởng chừng là một lời ca ngợi dành cho những bộ óc kiệt xuất mà Kennedy đã chiêu mộ và tin cậy để tham vấn về chính sách đối ngoại. Nhưng thực chất, tiêu đề ấy lại mang ý nghĩa châm biếm. Khi xét trên những thành tựu lẫy lừng mà dàn cố vấn đạt được trước khi bước chân vào vòng thân cận của tổng thống, họ quả là những con người ưu tú đến mức phi lý và nhiều người trong số đó vẫn tiếp tục làm việc dưới thời Johnson.
Điển hình là McGeorge Bundy, ông tốt nghiệp thủ khoa tại trường nội trú danh tiếng Groton. Tại đây, ông từng giả vờ “đọc” thành tiếng một bài tập về nhà mà bản thân còn chẳng buồn viết ra; ông đã ứng biến và trình bày những suy nghĩ được sắp xếp trong đầu một cách mạch lạc đến mức khiến cả giáo sư lẫn các bạn học phải sững sờ. Sau chuỗi thành tích xuất sắc tại Yale và Harvard, Bundy được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Nghệ thuật và Khoa học của Đại học Harvard ở tuổi 34, thời điểm mà hầu hết các học giả vẫn đang chật vật để đạt được vị trí biên chế trọn đời. Về sau, ông nắm giữ vị trí Cố vấn An ninh Quốc gia dưới thời hai đời tổng thống, Kennedy và sau đó là Johnson.
Một gương mặt kiệt xuất khác là Robert McNamara - cựu lãnh đạo Tập đoàn Ford Motor – người từng giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời cả hai vị tổng thống. Là một tri thức kỹ trị điển hình, ông có niềm tin mạnh mẽ vào khả năng giải quyết tất cả những vấn đề hóc búa dựa vào lý trí ứng dụng, trí thông minh và học vấn – nói cách khác, là sức mạnh trí tuệ thuần tuý – có thể khuất phục và giải quyết mọi vấn đề, ngoại trừ những trường hợp hy hữu nhất. Không dừng lại ở đó, McNamara còn nổi tiếng với “siêu năng lực” xử lý dữ liệu sắc bén, đi kèm với một trí nhớ huyền thoại.
Như Halberstam viết, “Một lần, (Robert McNamara) đã ngồi ở CINCPAC (một buổi thuyết trình quân sự) trong vòng tám giờ và xem hàng trăm, hàng ngàn trang trình chiếu, báo cáo về những thứ đã và sẽ được triển khai ở Việt Nam. Và sau 7 giờ, ông ấy cuối cùng cũng phát biểu “Dừng máy chiếu lại. Trang này, số 869, trái ngược với trang số 11”. Tất cả mọi người đều bị ấn tượng, một vài người đã thoáng sợ.
Tổng thống Mỹ đương nhiệm, Donald Trump, rất thích nhấn mạnh rằng cuộc chiến hiện nay không thể so sánh với cuộc chiến tại Việt Nam vì nó ngắn hơn nhiều, dù lúc đầu ông ấy đã khoác lác rằng chiến dịch tại Iran sẽ kết thúc trong một vài tuần. Tuy nhiên, rất khó để bất kỳ ai ngày nay đọc Halberstam mà không thừa nhận rằng hai cuộc chiến có quá nhiều điểm tương đồng.
Mỗi cuộc chiến đều được theo đuổi bởi những mục đích không rõ ràng và thường xuyên bị thay đổi. Chúng đều tiến triển trên cơ sở của những kế hoạch được vẽ ra bởi những con người bị chi phối bởi ý thức hệ nhưng lại thiếu đi kiến thức về đất nước mà Mỹ quyết định tiến hành chiến tranh. Quá trình lên kế hoạch cho từng cuộc chiến phần lớn diễn ra trong bí mật, với rất ít những công khai về chiến lược hay mục tiêu, chứ đừng nhắc đến những tham vấn với Quốc hội hay các đồng minh. Cả hai cuộc chiến gần như không có chỗ để những lời phản đối được cất tiếng. Chúng thể hiện niềm tin không thể bị thay đổi vào khả năng công nghệ và hỏa lực áp đảo vượt trội của Mỹ trong việc đảm bảo chiến thắng. Nhà Trắng đã không suy tính cẩn thận về việc chiến thắng sẽ trông như thế nào cũng như không dự tính được khi nào và làm thế nào rút lui. Và khi những bi kịch lần lượt xuất hiện, mỗi bên dường như đã bị lừa dối bởi chính những lời hoa mỹ mà mình tạo ra. “Khả năng hùng biện dường như đã trở thành mục đích tự thân”, Halberstam viết trong lời tựa được cập nhật cho ấn bản năm 1993 của tác phẩm kinh điển này.
Đặc biệt, đoạn này đã khiến tôi rùng mình ớn lạnh:
Một điều khác mà tôi nhận ra về đội ngũ của Kennedy và Johnson là dù sở hữu danh tiếng lẫy lừng như những nhà quản lý tài ba và lý tính, họ thực chất lại là những nhà quản trị rất tồi. Họ nghĩ rằng mình làm rất tốt, và luôn thao thao bất tuyệt về việc giữ cho các lựa chọn của mình luôn rộng mở, ngay cả khi cứ ngày qua ngày, tuần qua tuần, các sự kiện thực tế diễn ra đã từng bước khép chặt các lựa chọn đó. Sự thật là lịch sử… là một vị quan toà vô cùng nghiệt ngã; và từ đầu đến giữa thập niên 60, khi chúng ta đưa ra những quyết định mang tính định mệnh ấy, chúng ta hầu như không còn bất kỳ lựa chọn nào nữa.
Halberstam nói thêm rằng, những lựa chọn đó bao gồm, hoặc là, phải dũng cảm đối mặt với thất bại rồi rời khỏi nơi đó, hoặc là đưa thêm binh lính để tiếp tục chiến đấu trong một cuộc chiến không bao giờ thắng.
Cuối cùng, mỗi cuộc chiến đều thiếu mục đích đạo đức rõ ràng. Trong trường hợp của Trump, mục tiêu mà Washington đưa ra bao gồm những thứ chưa từng có tiền lệ trong nền chính trị Mỹ: một tuyên bố sẽ xóa bỏ nền văn minh của một đất nước - nền văn minh Iran. Thậm chí khi phải chống lại Nhật Bản, nơi mà bom nguyên tử đã được sử dụng lần đầu (và cho đến nay, cũng là lần duy nhất) trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chưa bao giờ các mục tiêu chiến tranh của Mỹ phải lún sâu vào trạng thái viển vông, hư ảo như thế này.
Mặc dù có rất nhiều điểm giống nhau giữa quá khứ và hiện tại, tôi lại cho rằng những khác biệt – nếu có – thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Halberstam đã chỉ trích đội ngũ Kennedy rằng dù bằng cấp, thành tích của từng thành viên trên giấy tờ có nổi bật đến đâu, rất ít người trong số họ có kinh nghiệm thực tiễn được khổ luyện trong thời gian dài như những quan chức từng điều hành các quan hệ đối ngoại của Mỹ trong thời hậu chiến: “Những người đã đưa ra các quyết định khó khăn ban đầu của Chiến tranh Lạnh từng trải qua một giai đoạn học việc dài hơn và toàn diện hơn rất nhiều trong nghề nghiệp của họ”.
Ai trong số đội ngũ kém cỏi của Trump đã giành được danh tiếng xứng đáng như một nhà quản lý tài giỏi hay lý trí? Chắc chắn không phải là Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth - đồng cấp của McNamara, người mà dường như được Trump lựa chọn đứng đầu Lầu Năm Góc với niềm tin sai lầm rằng một người “được tạo ra để dành cho truyền hình” cũng đồng thời “được rèn giũa trong ngành truyền hình” [VSF: ở đây tác giả bài viết chơi chữ, ý nói ông không tin Pete Hegseth – vốn là người dẫn chương trình của Fox News – được đào tạo bài bản hoặc có thâm niên và chuyên môn sâu để vận hành tốt Bộ Quốc phòng]. Lại càng không thể là Marco Rubio - cựu nghị sĩ kiêm ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia, nhưng lại chưa từng quản trị một tổ chức lớn hay thực thi quyền lực điều hành nào trước đây. Cũng không phải là vị phó tổng thống có khả năng biến hóa, J.D. Vance, người leo lên chức vụ cao nhanh chóng như Bundy, nhưng phần lớn lại nhờ vào danh tiếng của việc viết một cuốn hồi ký. Tôi xin miễn bình luận thêm về những chức vụ ngoại giao mặc định (ex officio) được giao cho những kẻ nghiệp dư thuần tuý như con rể của Trump, Jared Kushner, và người bạn doanh nhân của ông, Steve Witkoff.
Ngày nay, người mà đối với họ việc “nói suông” dường như là mục đích tự thân lại chính là bản thân tổng thống – người từng khoe khoang một cách phi lý rằng mình hiểu biết về các vấn đề quân sự hơn bất kỳ một vị tướng nào, và biết cách quản trị những vấn đề của châu Âu hơn chính người châu Âu. Sự kiêu ngạo của nước Mỹ là một phần trong chẩn đoán cốt lõi của Halberstam về sự thất bại thảm hại tại Việt Nam, nhưng chưa bao giờ sự ngạo mạn ấy lại lớn đến mức này.
Gác lại các mục tiêu chiến lược, cách điều hành một cuộc chiến tồi tệ đã tự nó nói lên tất cả. Trump và Hegseth đã khẩn thiết kêu gọi Quốc hội tăng chi tiêu quân sự lên 1.500 tỷ USD, một mức tăng đáng kể so với ngân sách vốn đã khổng lồ của Lầu Năm Góc. Sau những niềm tin ngờ nghệch rằng Iran có thể bị đánh bại bởi các cuộc không kích, một bài học [mà họ] chưa học được từ cuộc chiến tại Việt Nam, Mỹ đang cạn kiệt các hệ thống tên lửa công nghệ cao tốn kém - vũ khí được cho là tạo nên nền tảng quân sự vượt trội của nước này. Điều này không chỉ khiến đất nước mất đi năng lực duy trì một chiến dịch quân sự cường độ cao chống lại Iran, mà còn rơi vào thế bị động đầy nguy hiểm ở các khu vực khác trên thế giới, từ Đông Á cho tới sườn phía đông của châu Âu.
Trong khi đó, tinh thần quân lính trên các tàu chiến Mỹ đang thực thi lệnh phong tỏa đường biển đối với Iran đã trở nên tồi tệ đến mức nhiều thành viên thuỷ thủ đoàn của tàu USS Abraham Lincoln được báo cáo là đã cố gắng nhảy xuống biển để tự sát sau hơn 250 ngày lênh đênh trên biển.
Chưa đầy hai năm trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, Trump vừa khoe khoang về việc đã “tái thiết” các lực lượng vũ trang của Mỹ, vừa cam kết xây dựng lực lượng vũ trang Mỹ hùng mạnh đến mức trong tương lai, không một quốc gia nào dám thách thức Washington.
Iran, một cường quốc tầm trung với 93 triệu dân, dường như vẫn chưa nhận được thông điệp đó. Trong cuộc phỏng vấn với PBS News Hour tuần này, Chuẩn tướng Iran Mohammad Reza Naqdi đã tuyên bố: “Chúng tôi chưa từng trải qua một cuộc chiến thực sự để tích lũy kinh nghiệm thực tế nhằm học cách đối đầu với Mỹ. Trong năm tháng qua, chúng tôi đã học được cách làm điều đó. Chúng tôi cũng đã thấy quân đội Mỹ yếu hơn những gì chúng tôi từng hình dung.”
Đáng lo ngại, nhận định này có vẻ đáng tin hơn phần lớn những gì người ta nghe thấy từ Washington dạo gần đây.
Về tác giả:
Howard W. French là một cây viết bình luận tại tạp chí Foreign Policy, giáo sư tại Trường Cao học Báo chí thuộc Đại học Columbia và là một cựu phóng viên nước ngoài kỳ cựu. Cuốn sách mới nhất của ông có tựa đề The Second Emancipation: Nkrumah, Pan-Africanism, and Global Blackness at High Tide (Tạm dịch: Cuộc giải phóng thứ hai: Nkrumah, Chủ nghĩa toàn Phi và Cao trào của phong trào người da đen toàn cầu).
Bùi Hải Yến là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Yến là chính sách đối ngoại Việt Nam, ASEAN, cạnh tranh Mỹ - Trung. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Trần Tú Trân là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Trân là chính sách đối ngoại Việt Nam, quyền lực mềm, quan hệ kinh tế quốc tế. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Lê Huỳnh Thanh Xuân là sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Xuân là chính sách đối ngoại Việt Nam, ASEAN, Đông Bắc Á. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Từ khoá: Chiến tranh Iran Mỹ Việt Nam