“Cùng khai thác” ở Biển Đông: Bẫy chiến lược của Trung Quốc nguy hiểm ra sao?
Trung Quốc kêu gọi các bên có tranh chấp ở Biển Đông “gác tranh chấp, cùng khai thác”, ưu tiên thăm dò tài nguyên chung, đặc biệt là dầu khí, đồng thời gác lại các tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Nhưng đề nghị của Bắc Kinh thực chất là cái bẫy chiến lược nguy hiểm, khi các bên đánh đổi lợi ích dài hạn để đổi lấy lợi ích ngắn hạn.
Cuộc khủng hoảng năng lượng tại Trung Đông đã tạo cho Trung Quốc một cơ hội chiến lược để tái thúc đẩy chủ trương lâu đời của nước này tại Biển Đông đó là “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Vào tháng 4, Philippines cho biết họ có thể nối lại hoạt động thăm dò dầu khí chung với Trung Quốc ở Biển Đông trong bối cảnh quan ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng.
Trong khi một số Thượng nghị sĩ Philippines ủng hộ động thái này, những người phản đối, tiêu biểu là cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio, cảnh báo rằng hợp tác khai thác dầu khí chung với Trung Quốc có thể là một “cái bẫy” đối với Philippines.
Cách tiếp cận “cùng khai thác” (joint development) của Trung Quốc lần đầu được đề xuất bởi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình vào cuối những năm 1970, và Bắc Kinh đã theo đuổi chiến lược này trong hơn 40 năm nay. Cách tiếp cận này được xây dựng trên tiền đề rằng “chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc”.
Trong quá trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), Bắc Kinh thậm chí còn tìm cách đưa vào một điều khoản yêu cầu các quốc gia ven biển chấm dứt hợp tác với các công ty năng lượng của nước thứ ba tại các vùng biển bị cho là “tranh chấp”.
Mặc dù các khu vực khai thác chung chưa được đề cập một cách chính thức, các nguồn tin từ Trung Quốc thường xuyên đề cập đến Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) và Bãi Tư Chính (Vanguard Bank), vốn nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Philippines và Việt Nam, như những khu vực tiềm năng để thực hiện “khai thác chung”.
Điều này phản ánh ý đồ của Bắc Kinh trong việc ưu tiên khai thác chung tại những nơi mà họ thiếu cơ sở pháp lý theo luật pháp quốc tế, nhưng vẫn cố tình gán mác là các vùng biển “chồng lấn” hoặc “tranh chấp” để tạo cớ đàm phán với các quốc gia ven biển ở Biển Đông.
Mô hình “cùng khai thác” thông thường chỉ diễn ra tại các “vùng biển tranh chấp”, nơi các yêu sách chồng lấn được xác lập theo đúng các quy định pháp lý của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Các yêu sách vùng biển của Trung Quốc bao gồm hai thành tố: yêu sách mơ hồ về “đường chín đoạn” và các yêu sách vùng biển phát sinh từ các thực thể ở Biển Đông. Tuy nhiên, Phán quyết Biển Đông năm 2016 đã khẳng định rõ rằng yêu sách về “quyền lịch sử” đối với các tài nguyên tại các vùng biển bên trong cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông là không có cơ sở pháp lý, đồng thời toàn bộ các cấu trúc ở quần đảo Trường Sa không có khả năng để tạo ra các vùng biển mở rộng và cũng không thể tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất.
Phán quyết 2016 làm suy yếu vị thế pháp lý của Trung Quốc trong việc sử dụng đường chín đoạn để biến các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển thành “vùng biển tranh chấp”, đồng thời thu hẹp đáng kể phạm vi vùng biển có tranh chấp phát sinh từ các cấu trúc ở Trường Sa. Bất kỳ vùng biển tranh chấp nào, nếu có, có thể chỉ giới hạn trong phạm vi 12 hải lý lãnh hải xung quanh các thực thể nổi khi thủy triều cao ở Trường Sa. Các vùng biển nằm ngoài phạm vi đó đều sẽ thuộc quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển theo đúng quy định của UNCLOS 1982.
Trên thực địa, Trung Quốc liên tục can thiệp vào các hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia, Indonesia, Việt Nam và Philippines. Điều này cho thấy rằng Bắc Kinh sẽ sử dụng các biện pháp cưỡng ép nhằm khiến các hoạt động thăm dò độc lập trở nên tốn kém và nguy hiểm đến mức các quốc gia ven biển buộc phải hợp tác với Trung Quốc theo các điều kiện “cùng khai thác” do Bắc Kinh đặt ra. Đây là một nỗ lực tinh vi nhằm hiện thực hóa các yêu sách hàng hải phi pháp của Trung Quốc trong khu vực.
Manila cần nhận thức rằng những lời kêu gọi về “sự chân thành” từ phía Bắc Kinh như một điều kiện chính trị tiên quyết để cùng khai thác thường chỉ là vỏ bọc cho các nhượng bộ chiến lược, chẳng hạn như việc Philippines phải giảm các hoạt động hàng hải trong chính EEZ của mình. Chấp nhận cùng khai thác theo các điều kiện của Bắc Kinh có thể đồng nghĩa với việc mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của một tranh chấp ở nơi mà luật pháp nói rằng không hề có tranh chấp.
Ngay cả khi một thỏa thuận được ký kết, sự thiếu vắng lòng tin và sự bất cân xứng quyền lực cũng có thể làm suy yếu tính bền vững của thỏa thuận. Thực tế, ngay sau vòng đàm phán ban đầu tại Tuyền Châu từ ngày 27-28/3/2026, Trung Quốc không thể hiện thiện chí hợp tác mà ngược lại còn gia tăng tuần tra quanh Bãi cạn Scarborough chỉ một ngày sau đó.
Đối với Philippines, rào cản lớn nhất đối với việc khai thác dầu khí là Hiến pháp nước này, khi các chuyên gia vẫn tranh luận liệu khuôn khổ cùng khai thác với Trung Quốc có vi phạm các nguyên tắc chủ quyền quốc gia hay không. Kịch bản lý tưởng là mô hình chia lợi nhuận 60–40 nghiêng về Manila để đáp ứng các yêu cầu hiến định. Nếu Bắc Kinh từ chối, Philippines có thể buộc phải hợp tác với các đối tác khác. Tuy nhiên, những quan hệ hợp tác này đòi hỏi quyết tâm chiến lược mạnh mẽ để chống chịu với áp lực địa chính trị, đồng thời giúp ngăn các công ty năng lượng tư nhân có xu hướng rút lui khi các rủi ro về căng thẳng chủ quyền leo thang.
Nếu các quốc gia ven biển Đông Nam Á ưu tiên tự chủ năng lượng thông qua khai thác dầu khí trong EEZ của mình trong bối cảnh an ninh năng lượng toàn cầu đầy thách thức, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục siết áp lực nhằm buộc họ chấp nhận các thỏa thuận khai thác chung. Những quốc gia như Việt Nam và Philippines cần đặc biệt cảnh giác và thận trọng khi cân nhắc các đề nghị hợp tác khai thác chung từ Trung Quốc.
Trong bối cảnh Trung Quốc vẫn kiên quyết bác bỏ Phán quyết Trọng tài năm 2016 và tiếp tục duy trì lập trường rằng quần đảo Trường Sa có EEZ riêng, việc đồng ý khai thác chung tại các khu vực không có tranh chấp có thể vô tình tạo ra sự củng cố về mặt chính trị đối với các yêu sách này.
Nếu phạm vi địa lý của hoạt động hợp tác không được xác định một cách chặt chẽ trên cơ sở luật pháp quốc tế, việc chấp nhận các đề xuất khai thác chung của Trung Quốc hoàn toàn có thể trở thành một “cái bẫy chiến lược”, từng bước biến những EEZ vốn không có tranh chấp thành các “khu vực tranh chấp” trên thực tế.
Trong bối cảnh kỷ niệm 10 năm Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 đang đến gần vào năm 2026, Phán quyết này cần phải được xem như một “kim chỉ nam không thể thỏa hiệp,” trong việc giúp các quốc gia ven biển bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc từ bỏ lá chắn pháp lý này để đổi lấy những lợi ích kinh tế ngắn hạn không chỉ làm tổn hại lợi ích quốc gia mà còn đẩy nhanh sự xói mòn nền tảng của luật pháp quốc tế tại Biển Đông.
*Ghi chú của VSF: Phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên East Asia Forum với tiêu đề “Joint development in the South China Sea is a strategic trap”. VSF cảm ơn tác giả đã chấp thuận đề nghị và dịch bài viết này.
Cuộc khủng hoảng năng lượng tại Trung Đông đã tạo cho Trung Quốc một cơ hội chiến lược để tái thúc đẩy chủ trương lâu đời của nước này tại Biển Đông đó là “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Vào tháng 4, Philippines cho biết họ có thể nối lại hoạt động thăm dò dầu khí chung với Trung Quốc ở Biển Đông trong bối cảnh quan ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng.
Trong khi một số Thượng nghị sĩ Philippines ủng hộ động thái này, những người phản đối, tiêu biểu là cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio, cảnh báo rằng hợp tác khai thác dầu khí chung với Trung Quốc có thể là một “cái bẫy” đối với Philippines.
Cách tiếp cận “cùng khai thác” (joint development) của Trung Quốc lần đầu được đề xuất bởi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình vào cuối những năm 1970, và Bắc Kinh đã theo đuổi chiến lược này trong hơn 40 năm nay. Cách tiếp cận này được xây dựng trên tiền đề rằng “chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc”.
Trong quá trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), Bắc Kinh thậm chí còn tìm cách đưa vào một điều khoản yêu cầu các quốc gia ven biển chấm dứt hợp tác với các công ty năng lượng của nước thứ ba tại các vùng biển bị cho là “tranh chấp”.
Mặc dù các khu vực khai thác chung chưa được đề cập một cách chính thức, các nguồn tin từ Trung Quốc thường xuyên đề cập đến Bãi Cỏ Rong (Reed Bank) và Bãi Tư Chính (Vanguard Bank), vốn nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Philippines và Việt Nam, như những khu vực tiềm năng để thực hiện “khai thác chung”.
Điều này phản ánh ý đồ của Bắc Kinh trong việc ưu tiên khai thác chung tại những nơi mà họ thiếu cơ sở pháp lý theo luật pháp quốc tế, nhưng vẫn cố tình gán mác là các vùng biển “chồng lấn” hoặc “tranh chấp” để tạo cớ đàm phán với các quốc gia ven biển ở Biển Đông.
Mô hình “cùng khai thác” thông thường chỉ diễn ra tại các “vùng biển tranh chấp”, nơi các yêu sách chồng lấn được xác lập theo đúng các quy định pháp lý của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Các yêu sách vùng biển của Trung Quốc bao gồm hai thành tố: yêu sách mơ hồ về “đường chín đoạn” và các yêu sách vùng biển phát sinh từ các thực thể ở Biển Đông. Tuy nhiên, Phán quyết Biển Đông năm 2016 đã khẳng định rõ rằng yêu sách về “quyền lịch sử” đối với các tài nguyên tại các vùng biển bên trong cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông là không có cơ sở pháp lý, đồng thời toàn bộ các cấu trúc ở quần đảo Trường Sa không có khả năng để tạo ra các vùng biển mở rộng và cũng không thể tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất.
Phán quyết 2016 làm suy yếu vị thế pháp lý của Trung Quốc trong việc sử dụng đường chín đoạn để biến các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển thành “vùng biển tranh chấp”, đồng thời thu hẹp đáng kể phạm vi vùng biển có tranh chấp phát sinh từ các cấu trúc ở Trường Sa. Bất kỳ vùng biển tranh chấp nào, nếu có, có thể chỉ giới hạn trong phạm vi 12 hải lý lãnh hải xung quanh các thực thể nổi khi thủy triều cao ở Trường Sa. Các vùng biển nằm ngoài phạm vi đó đều sẽ thuộc quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển theo đúng quy định của UNCLOS 1982.
Trên thực địa, Trung Quốc liên tục can thiệp vào các hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia, Indonesia, Việt Nam và Philippines. Điều này cho thấy rằng Bắc Kinh sẽ sử dụng các biện pháp cưỡng ép nhằm khiến các hoạt động thăm dò độc lập trở nên tốn kém và nguy hiểm đến mức các quốc gia ven biển buộc phải hợp tác với Trung Quốc theo các điều kiện “cùng khai thác” do Bắc Kinh đặt ra. Đây là một nỗ lực tinh vi nhằm hiện thực hóa các yêu sách hàng hải phi pháp của Trung Quốc trong khu vực.
Manila cần nhận thức rằng những lời kêu gọi về “sự chân thành” từ phía Bắc Kinh như một điều kiện chính trị tiên quyết để cùng khai thác thường chỉ là vỏ bọc cho các nhượng bộ chiến lược, chẳng hạn như việc Philippines phải giảm các hoạt động hàng hải trong chính EEZ của mình. Chấp nhận cùng khai thác theo các điều kiện của Bắc Kinh có thể đồng nghĩa với việc mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của một tranh chấp ở nơi mà luật pháp nói rằng không hề có tranh chấp.
Ngay cả khi một thỏa thuận được ký kết, sự thiếu vắng lòng tin và sự bất cân xứng quyền lực cũng có thể làm suy yếu tính bền vững của thỏa thuận. Thực tế, ngay sau vòng đàm phán ban đầu tại Tuyền Châu từ ngày 27-28/3/2026, Trung Quốc không thể hiện thiện chí hợp tác mà ngược lại còn gia tăng tuần tra quanh Bãi cạn Scarborough chỉ một ngày sau đó.
Đối với Philippines, rào cản lớn nhất đối với việc khai thác dầu khí là Hiến pháp nước này, khi các chuyên gia vẫn tranh luận liệu khuôn khổ cùng khai thác với Trung Quốc có vi phạm các nguyên tắc chủ quyền quốc gia hay không. Kịch bản lý tưởng là mô hình chia lợi nhuận 60–40 nghiêng về Manila để đáp ứng các yêu cầu hiến định. Nếu Bắc Kinh từ chối, Philippines có thể buộc phải hợp tác với các đối tác khác. Tuy nhiên, những quan hệ hợp tác này đòi hỏi quyết tâm chiến lược mạnh mẽ để chống chịu với áp lực địa chính trị, đồng thời giúp ngăn các công ty năng lượng tư nhân có xu hướng rút lui khi các rủi ro về căng thẳng chủ quyền leo thang.
Nếu các quốc gia ven biển Đông Nam Á ưu tiên tự chủ năng lượng thông qua khai thác dầu khí trong EEZ của mình trong bối cảnh an ninh năng lượng toàn cầu đầy thách thức, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục siết áp lực nhằm buộc họ chấp nhận các thỏa thuận khai thác chung. Những quốc gia như Việt Nam và Philippines cần đặc biệt cảnh giác và thận trọng khi cân nhắc các đề nghị hợp tác khai thác chung từ Trung Quốc.
Trong bối cảnh Trung Quốc vẫn kiên quyết bác bỏ Phán quyết Trọng tài năm 2016 và tiếp tục duy trì lập trường rằng quần đảo Trường Sa có EEZ riêng, việc đồng ý khai thác chung tại các khu vực không có tranh chấp có thể vô tình tạo ra sự củng cố về mặt chính trị đối với các yêu sách này.
Nếu phạm vi địa lý của hoạt động hợp tác không được xác định một cách chặt chẽ trên cơ sở luật pháp quốc tế, việc chấp nhận các đề xuất khai thác chung của Trung Quốc hoàn toàn có thể trở thành một “cái bẫy chiến lược”, từng bước biến những EEZ vốn không có tranh chấp thành các “khu vực tranh chấp” trên thực tế.
Trong bối cảnh kỷ niệm 10 năm Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 đang đến gần vào năm 2026, Phán quyết này cần phải được xem như một “kim chỉ nam không thể thỏa hiệp,” trong việc giúp các quốc gia ven biển bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc từ bỏ lá chắn pháp lý này để đổi lấy những lợi ích kinh tế ngắn hạn không chỉ làm tổn hại lợi ích quốc gia mà còn đẩy nhanh sự xói mòn nền tảng của luật pháp quốc tế tại Biển Đông.
*Ghi chú của VSF: Phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên East Asia Forum với tiêu đề “Joint development in the South China Sea is a strategic trap”. VSF cảm ơn tác giả đã chấp thuận đề nghị và dịch bài viết này.
Từ khoá: Biển Đông Trung Quốc quần đảo Trường Sa dầu khí tranh chấp chủ quyền Philippines COC UNCLOS