Biển Đông
15 PHÚT ĐỌC

Dân sự hoá để kiến tạo chủ quyền: Trung Quốc đang làm gì ở Hoàng Sa - Trường Sa?

Với việc liên tục đầu tư cho đời sống dân sự trên các đảo tranh chấp ở Biển Đông, Trung Quốc không chỉ chiếm đóng trái phép mà còn thiết lập và duy trì quyền kiểm soát trên thực tế (de facto).

Võ Thị Thuý An 20/03/2026
Image
Thời gian qua, Trung Quốc không chỉ đẩy mạnh hoạt động bồi đắp và mở rộng diện tích đảo mà còn triển khai nhiều biện pháp nhằm phát triển đời sống dân sự trên các đảo mà nước này chiếm đóng ở Biển Đông - (C): VSF

Ngày 12/1, “chính quyền thành phố Tam Sa” - cơ quan được Trung Quốc thành lập để quản lý các vùng lãnh thổ tranh chấp trên Biển Đông (gồm cả hai đặc khu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) - cho biết họ đang tìm kiếm 11 “nhân viên cộng đồng” để làm việc trên tám rạn san hô thuộc Đảo Phú Lâm (thuộc đặc khu Hoàng Sa của Việt Nam) - nơi đặt trung tâm hành chính của các vùng lãnh thổ tranh chấp, và Đá Vành Khăn (thuộc đặc khu Trường Sa của Việt Nam) - nơi hiện diện một căn cứ quân sự lớn của Bắc Kinh.

Đây không phải là động thái đầu tiên mà Trung Quốc triển khai nhằm phát triển đời sống dân sự trên Biển Đông như trên lãnh thổ đất liền. Sau 6 thập kỷ kể từ ngày Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bí mật đưa các toán quân đầu tiên ra xâm chiếm Hoàng Sa (tháng 4/1956) và dần mở rộng việc chiếm đóng phi pháp các thực thể ở Biển Đông theo yêu sách “đường 9 đoạn” (nine-dash line), Bắc Kinh giờ đây đang nghiễm nhiên xem Hoàng Sa, Trường Sa là một phần lãnh thổ của họ, đồng thời thực hiện mọi quyền quản lý nhà nước trên các thực thể này.

Thời gian qua, Trung Quốc không chỉ đẩy mạnh hoạt động bồi đắp và mở rộng diện tích đảo mà còn triển khai nhiều biện pháp nhằm phát triển đời sống dân sự trên các đảo mà nước này chiếm đóng ở Biển Đông. Bắc Kinh đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung thực phẩm trên hải đảo thông qua xây dựng các trang trại chăn nuôi công nghệ cao trên biển. Đến nay, có hơn 180 trang trại biển cấp quốc gia đã được xây dựng. Các tiện nghi phục vụ đời sống ngày càng được đầu tư, như xây nhà máy khử mặn, mở rộng mạng lưới điện và Internet, thiết lập các tuyến chuyển phát nhanh từ đất liền ra đảo để phục vụ mua sắm trực tuyến.

Cách đây hơn 3 năm, ngư dân là lực lượng chủ yếu hiện diện trên các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng. Giờ đây, quốc gia này đang mở rộng việc đưa các nhóm dân cư khác ra sinh sống, hướng tới việc hình thành một cộng đồng dân cư đa dạng hơn. Trước khi xuất hiện “thông báo tuyển dụng” hôm 12/1, trên quần đảo Hoàng Sa đã có một bộ phận cư dân Trung Quốc sinh sống bằng các sinh kế phi ngư nghiệp như quản lý tài sản và cảnh quan, làm thủ công mỹ nghệ, với tổng dân số ước tính khoảng 1.800 người.

Trong thời gian tới, mỗi cơ quan dân sự mới mà Trung Quốc thiết lập trên các thực thể đang chiếm đóng nhiều khả năng sẽ kéo theo sự gia tăng đáng kể số lượng công chức và lao động nước này đến làm việc và sinh sống. Trong đó, việc Bắc Kinh công bố kế hoạch thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Hoàng Nham tại bãi cạn Scarborough vào tháng 9/2025 là rất đáng chú ý. Đây là một bước đi vừa ngầm khẳng định yêu sách chủ quyền, vừa tạo cơ sở để nước này mở rộng hiện diện dân sự và tăng cường hoạt động quản lý thường xuyên tại khu vực này.

Riêng đối với quần đảo Trường Sa, ngoài Trung Quốc thì Philippines, Việt Nam, Malaysia, và Đài Loan đều có các căn cứ kiên cố ở đây. Tuy nhiên, các căn cứ này chủ yếu là nơi hải quân đóng quân và dân cư rất thưa thớt. Trong đó, Việt Nam có 33 điểm đóng quân trên 21 đảo ở Trường Sa, nhưng chỉ có 4 đảo có người dân sinh sống, gồm Thị trấn Trường Sa, đảo Song Tử Tây, Đá Tây A, và đảo Sinh Tồn. Cho đến nay, chưa có số liệu chính thức được công bố về quy mô dân cư Việt Nam đang sinh sống trên các đảo.

Không chỉ dừng lại ở việc mở rộng đời sống dân sinh trên đảo, Trung Quốc gần đây đã đưa ra thông báo mở cửa cho du khách nước ngoài đến tham quan Hoàng Sa mà không cần xin thị thực Trung Quốc. Trong khi đó, mới cách đây 6 năm, các tour du lịch của họ chỉ chấp nhận công dân Trung Quốc, với khách tham quan chủ yếu là quân đội, nhân viên chính phủ, thân nhân ngư dân, nhà nghiên cứu, công nhân phái cử và các thành viên truyền thông. Với động thái mới này, tham vọng của Trung Quốc rất có thể không chỉ dừng lại ở việc phát triển sinh kế và du lịch trên đảo phục vụ người dân trong nước. Nguy cơ lớn hơn là Bắc Kinh đang “mượn” kênh du lịch quốc tế để tạo dựng hình ảnh về một “sự quản lý hiệu quả” đối với các đảo tranh chấp, qua đó từng bước thúc đẩy các chiến dịch tuyên truyền sai lệch về lịch sử chủ quyền của Hoàng Sa tới công chúng nước ngoài.

Hơn nữa, hành động xin thị thực của khách nước ngoài đến một vùng đất không chỉ đơn thuần là thủ tục nhập cảnh, mà còn là sự gián tiếp công nhận nơi đó thuộc chủ quyền của quốc gia cấp phép. Là quốc gia đầu tiên trong số các bên tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa mở tour du lịch quốc tế miễn thị thực đến quần đảo này, Trung Quốc đang cố tình tạo ra một “sự đã rồi” (fait accompli), buộc du khách có nhu cầu đến thăm quần đảo này phải chấp nhận luật chơi và mặc định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Việc mở rộng dân sự hoá các đảo chiếm đóng phản ánh nỗ lực của Bắc Kinh nhằm tạo lập và duy trì quyền kiểm soát trên thực tế (de facto control), bất chấp việc các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý theo công pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Có thể nói, việc Trung Quốc tăng cường đưa người dân ra các đảo chiếm đóng có thể không chỉ nhằm củng cố kiểm soát và yêu sách chủ quyền trong hiện tại, mà còn nhằm tạo lập tiền đề lịch sử về sự cư trú lâu dài của người Trung Hoa trên các thực thể này trong tương lai.

Những bước đi này của Trung Quốc đang dần làm nhạt đi các tranh cãi lịch sử về chủ quyền Biển Đông trong nhận thức của thế hệ kế cận. Ngay từ bậc tiểu học, học sinh Trung Quốc đã được giảng dạy về Biển Đông và quần đảo Tây Sa như một phần máu thịt của quốc gia, rằng “Quần đảo Tây Sa nằm ở phía tây bắc của Biển Đông. Đó là một nơi đáng yêu với phong cảnh đẹp và tài nguyên phong phú”. Bằng cách mở rộng và duy trì đời sống dân sự của công dân Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chỉ sau hai đến ba thế hệ, Bắc Kinh có thể xây dựng được một cơ sở lập luận “vững chắc” hơn – dù sai lầm – để coi hai quần đảo này, thậm chí cả Biển Đông, như vùng đất gắn với tổ tiên họ.

Khi đó, nếu các tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa chỉ dựa trên tư liệu lịch sử mà thiếu đi dấu ấn của đời sống con người Việt Nam hiện diện liên tục tại đây, lập trường này có nguy cơ bị suy yếu dần, đặc biệt là trong bối cảnh giá trị pháp lý của việc khẳng định chủ quyền thuần tuý bằng chứng cứ lịch sử đã bị Toà Trọng tài Biển Đông bác bỏ vào năm 2016.

Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần nỗ lực giữ lấy từng tấc đất hải đảo thông qua việc mở rộng sự hiện diện về đời sống của con người trên các đảo mà Việt Nam đã kiểm soát ở Trường Sa. Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không nên chỉ chú trọng vào xây dựng các địa phương trong đất liền, mà nên tranh thủ tối đa nguồn lực để bồi đắp đảo, cải thiện điều kiện sống cho người dân và thu hút thêm người Việt sinh sống tại các đặc khu hành chính hải đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần ưu tiên cho việc tuyên truyền và giáo dục về chủ quyền biển, đảo cho thế hệ tương lai. Đã từng có giai đoạn công tác này được đẩy mạnh, đặc biệt trong thời kỳ Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam (năm 2014), khi vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa xuất hiện với mức độ dày đặc trong diễn ngôn công chúng. Tuy nhiên, phong trào tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo dần trở nên im ắng trong những năm gần đây. Trong khi Trung Quốc liên tục và nhất quán trong việc định hình diễn ngôn về Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi hai quần đảo này lần lượt là Tây Sa và Nam Sa) theo hướng có lợi cho nước này thì sự dè dặt kéo dài của Việt Nam có nguy cơ tạo ra khoảng trống nhận thức, làm suy yếu nền tảng xã hội cho việc bảo vệ chủ quyền đất nước.

Ngoài ra, mở rộng du lịch quốc tế như cách Bắc Kinh làm cũng là một biện pháp mà Hà Nội cần cân nhắc. Để tạo cơ sở cho du lịch đến Trường Sa, việc phát triển cơ sở hạ tầng dân sự và các địa điểm tham quan, bảo tồn vẫn là điều kiện tiên quyết. Nhà nước cần huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp trong nước. Với nhiều công trình du lịch dời non lấp biển như Dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) hay Khu du lịch Sun World Ba Den Mountain trên đỉnh núi Bà Đen (tỉnh Tây Ninh), các tập đoàn lớn của Việt Nam như VinGroup và Sun Group hoàn toàn có đủ tiềm lực để đầu tư cho các hoạt động du lịch tại các địa bàn khắc nghiệt như hải đảo.

Nếu Việt Nam không chú ý và tăng tốc trong hành động, thì với năng lực dân sự hoá các đảo tranh chấp của Trung Quốc trong hiện tại, viễn cảnh nước này từng bước thiết lập quyền kiểm soát thực tế trên phần lớn Biển Đông sẽ không còn xa.

Ngày 12/1, “chính quyền thành phố Tam Sa” - cơ quan được Trung Quốc thành lập để quản lý các vùng lãnh thổ tranh chấp trên Biển Đông (gồm cả hai đặc khu Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) - cho biết họ đang tìm kiếm 11 “nhân viên cộng đồng” để làm việc trên tám rạn san hô thuộc Đảo Phú Lâm (thuộc đặc khu Hoàng Sa của Việt Nam) - nơi đặt trung tâm hành chính của các vùng lãnh thổ tranh chấp, và Đá Vành Khăn (thuộc đặc khu Trường Sa của Việt Nam) - nơi hiện diện một căn cứ quân sự lớn của Bắc Kinh.

Đây không phải là động thái đầu tiên mà Trung Quốc triển khai nhằm phát triển đời sống dân sự trên Biển Đông như trên lãnh thổ đất liền. Sau 6 thập kỷ kể từ ngày Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bí mật đưa các toán quân đầu tiên ra xâm chiếm Hoàng Sa (tháng 4/1956) và dần mở rộng việc chiếm đóng phi pháp các thực thể ở Biển Đông theo yêu sách “đường 9 đoạn” (nine-dash line), Bắc Kinh giờ đây đang nghiễm nhiên xem Hoàng Sa, Trường Sa là một phần lãnh thổ của họ, đồng thời thực hiện mọi quyền quản lý nhà nước trên các thực thể này.

Thời gian qua, Trung Quốc không chỉ đẩy mạnh hoạt động bồi đắp và mở rộng diện tích đảo mà còn triển khai nhiều biện pháp nhằm phát triển đời sống dân sự trên các đảo mà nước này chiếm đóng ở Biển Đông. Bắc Kinh đang nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung thực phẩm trên hải đảo thông qua xây dựng các trang trại chăn nuôi công nghệ cao trên biển. Đến nay, có hơn 180 trang trại biển cấp quốc gia đã được xây dựng. Các tiện nghi phục vụ đời sống ngày càng được đầu tư, như xây nhà máy khử mặn, mở rộng mạng lưới điện và Internet, thiết lập các tuyến chuyển phát nhanh từ đất liền ra đảo để phục vụ mua sắm trực tuyến.

Cách đây hơn 3 năm, ngư dân là lực lượng chủ yếu hiện diện trên các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng. Giờ đây, quốc gia này đang mở rộng việc đưa các nhóm dân cư khác ra sinh sống, hướng tới việc hình thành một cộng đồng dân cư đa dạng hơn. Trước khi xuất hiện “thông báo tuyển dụng” hôm 12/1, trên quần đảo Hoàng Sa đã có một bộ phận cư dân Trung Quốc sinh sống bằng các sinh kế phi ngư nghiệp như quản lý tài sản và cảnh quan, làm thủ công mỹ nghệ, với tổng dân số ước tính khoảng 1.800 người.

Trong thời gian tới, mỗi cơ quan dân sự mới mà Trung Quốc thiết lập trên các thực thể đang chiếm đóng nhiều khả năng sẽ kéo theo sự gia tăng đáng kể số lượng công chức và lao động nước này đến làm việc và sinh sống. Trong đó, việc Bắc Kinh công bố kế hoạch thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Hoàng Nham tại bãi cạn Scarborough vào tháng 9/2025 là rất đáng chú ý. Đây là một bước đi vừa ngầm khẳng định yêu sách chủ quyền, vừa tạo cơ sở để nước này mở rộng hiện diện dân sự và tăng cường hoạt động quản lý thường xuyên tại khu vực này.

Riêng đối với quần đảo Trường Sa, ngoài Trung Quốc thì Philippines, Việt Nam, Malaysia, và Đài Loan đều có các căn cứ kiên cố ở đây. Tuy nhiên, các căn cứ này chủ yếu là nơi hải quân đóng quân và dân cư rất thưa thớt. Trong đó, Việt Nam có 33 điểm đóng quân trên 21 đảo ở Trường Sa, nhưng chỉ có 4 đảo có người dân sinh sống, gồm Thị trấn Trường Sa, đảo Song Tử Tây, Đá Tây A, và đảo Sinh Tồn. Cho đến nay, chưa có số liệu chính thức được công bố về quy mô dân cư Việt Nam đang sinh sống trên các đảo.

Không chỉ dừng lại ở việc mở rộng đời sống dân sinh trên đảo, Trung Quốc gần đây đã đưa ra thông báo mở cửa cho du khách nước ngoài đến tham quan Hoàng Sa mà không cần xin thị thực Trung Quốc. Trong khi đó, mới cách đây 6 năm, các tour du lịch của họ chỉ chấp nhận công dân Trung Quốc, với khách tham quan chủ yếu là quân đội, nhân viên chính phủ, thân nhân ngư dân, nhà nghiên cứu, công nhân phái cử và các thành viên truyền thông. Với động thái mới này, tham vọng của Trung Quốc rất có thể không chỉ dừng lại ở việc phát triển sinh kế và du lịch trên đảo phục vụ người dân trong nước. Nguy cơ lớn hơn là Bắc Kinh đang “mượn” kênh du lịch quốc tế để tạo dựng hình ảnh về một “sự quản lý hiệu quả” đối với các đảo tranh chấp, qua đó từng bước thúc đẩy các chiến dịch tuyên truyền sai lệch về lịch sử chủ quyền của Hoàng Sa tới công chúng nước ngoài.

Hơn nữa, hành động xin thị thực của khách nước ngoài đến một vùng đất không chỉ đơn thuần là thủ tục nhập cảnh, mà còn là sự gián tiếp công nhận nơi đó thuộc chủ quyền của quốc gia cấp phép. Là quốc gia đầu tiên trong số các bên tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa mở tour du lịch quốc tế miễn thị thực đến quần đảo này, Trung Quốc đang cố tình tạo ra một “sự đã rồi” (fait accompli), buộc du khách có nhu cầu đến thăm quần đảo này phải chấp nhận luật chơi và mặc định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Việc mở rộng dân sự hoá các đảo chiếm đóng phản ánh nỗ lực của Bắc Kinh nhằm tạo lập và duy trì quyền kiểm soát trên thực tế (de facto control), bất chấp việc các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý theo công pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Có thể nói, việc Trung Quốc tăng cường đưa người dân ra các đảo chiếm đóng có thể không chỉ nhằm củng cố kiểm soát và yêu sách chủ quyền trong hiện tại, mà còn nhằm tạo lập tiền đề lịch sử về sự cư trú lâu dài của người Trung Hoa trên các thực thể này trong tương lai.

Những bước đi này của Trung Quốc đang dần làm nhạt đi các tranh cãi lịch sử về chủ quyền Biển Đông trong nhận thức của thế hệ kế cận. Ngay từ bậc tiểu học, học sinh Trung Quốc đã được giảng dạy về Biển Đông và quần đảo Tây Sa như một phần máu thịt của quốc gia, rằng “Quần đảo Tây Sa nằm ở phía tây bắc của Biển Đông. Đó là một nơi đáng yêu với phong cảnh đẹp và tài nguyên phong phú”. Bằng cách mở rộng và duy trì đời sống dân sự của công dân Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chỉ sau hai đến ba thế hệ, Bắc Kinh có thể xây dựng được một cơ sở lập luận “vững chắc” hơn – dù sai lầm – để coi hai quần đảo này, thậm chí cả Biển Đông, như vùng đất gắn với tổ tiên họ.

Khi đó, nếu các tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa chỉ dựa trên tư liệu lịch sử mà thiếu đi dấu ấn của đời sống con người Việt Nam hiện diện liên tục tại đây, lập trường này có nguy cơ bị suy yếu dần, đặc biệt là trong bối cảnh giá trị pháp lý của việc khẳng định chủ quyền thuần tuý bằng chứng cứ lịch sử đã bị Toà Trọng tài Biển Đông bác bỏ vào năm 2016.

Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần nỗ lực giữ lấy từng tấc đất hải đảo thông qua việc mở rộng sự hiện diện về đời sống của con người trên các đảo mà Việt Nam đã kiểm soát ở Trường Sa. Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không nên chỉ chú trọng vào xây dựng các địa phương trong đất liền, mà nên tranh thủ tối đa nguồn lực để bồi đắp đảo, cải thiện điều kiện sống cho người dân và thu hút thêm người Việt sinh sống tại các đặc khu hành chính hải đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần ưu tiên cho việc tuyên truyền và giáo dục về chủ quyền biển, đảo cho thế hệ tương lai. Đã từng có giai đoạn công tác này được đẩy mạnh, đặc biệt trong thời kỳ Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam (năm 2014), khi vấn đề Hoàng Sa - Trường Sa xuất hiện với mức độ dày đặc trong diễn ngôn công chúng. Tuy nhiên, phong trào tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo dần trở nên im ắng trong những năm gần đây. Trong khi Trung Quốc liên tục và nhất quán trong việc định hình diễn ngôn về Hoàng Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi hai quần đảo này lần lượt là Tây Sa và Nam Sa) theo hướng có lợi cho nước này thì sự dè dặt kéo dài của Việt Nam có nguy cơ tạo ra khoảng trống nhận thức, làm suy yếu nền tảng xã hội cho việc bảo vệ chủ quyền đất nước.

Ngoài ra, mở rộng du lịch quốc tế như cách Bắc Kinh làm cũng là một biện pháp mà Hà Nội cần cân nhắc. Để tạo cơ sở cho du lịch đến Trường Sa, việc phát triển cơ sở hạ tầng dân sự và các địa điểm tham quan, bảo tồn vẫn là điều kiện tiên quyết. Nhà nước cần huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp trong nước. Với nhiều công trình du lịch dời non lấp biển như Dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) hay Khu du lịch Sun World Ba Den Mountain trên đỉnh núi Bà Đen (tỉnh Tây Ninh), các tập đoàn lớn của Việt Nam như VinGroup và Sun Group hoàn toàn có đủ tiềm lực để đầu tư cho các hoạt động du lịch tại các địa bàn khắc nghiệt như hải đảo.

Nếu Việt Nam không chú ý và tăng tốc trong hành động, thì với năng lực dân sự hoá các đảo tranh chấp của Trung Quốc trong hiện tại, viễn cảnh nước này từng bước thiết lập quyền kiểm soát thực tế trên phần lớn Biển Đông sẽ không còn xa.

Từ khoá: Biển Đông Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam Trung Quốc tranh chấp Biển Đông

BÀI LIÊN QUAN