Quyền tự quyết của người khiếm thị
Với người khiếm thị, sự giúp đỡ và quyền tự quyết không phải lúc nào cũng song hành.
Sự giúp đỡ và quyền tự quyết của người khiếm thị
Sự giúp đỡ dành cho người khiếm thị thường xuất phát từ mong muốn họ vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống. [1] Tuy nhiên, khi người giúp đỡ tự ý quyết định điều gì là tốt nhất cho người được giúp, sự hỗ trợ có thể trở thành hành vi áp đặt. Do đó, ta cần hiểu rõ mối quan hệ giữa nhu cầu hỗ trợ và quyền tự quyết của người khiếm thị.
Để làm rõ mối quan hệ này, trước hết cần phân biệt năng lực ra quyết định, quyền tự quyết và điều kiện thực hiện quyền tự quyết. Năng lực ra quyết định là khả năng hiểu thông tin, cân nhắc các phương án và hình thành lựa chọn. Quyền tự quyết là quyền của cá nhân được quyết định những vấn đề thuộc phạm vi quyền của mình. Trong khi đó, điều kiện thực hiện quyền tự quyết gồm thông tin, phương tiện và sự hỗ trợ cần thiết để cá nhân có thể hình thành, truyền đạt và thực hiện lựa chọn. Nhưng một người có đầy đủ năng lực ra quyết định vẫn có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền tự quyết nếu thiếu phương tiện phù hợp.
Trong triết học, tự chủ là khả năng cá nhân định hướng và quyết định hành động của mình. Theo Immanuel Kant, tự chủ đạo đức thể hiện ở khả năng sử dụng lý trí để xác lập và tuân theo các nguyên tắc đạo đức, thay vì chỉ phục tùng ý chí của người khác. Nói cách khác, người tự chủ là người có khả năng nhận thức, đưa ra quyết định, bày tỏ ý chí và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Khái niệm này bao gồm phần lớn người trưởng thành không mắc bệnh lý làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tự quyết định. Về pháp lý, Điều 12 Công ước về quyền của người khuyết tật (sau đây gọi là CRPD) khẳng định người khuyết tật có năng lực pháp lý bình đẳng với người khác; Điều 22-24 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ cho phép Tòa án tuyên bố một người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự trong những trường hợp luật định. Khiếm thị không phải căn cứ để hạn chế năng lực này. Điều 3(a) CRPD cũng yêu cầu tôn trọng phẩm giá vốn có, quyền tự chủ và tự do lựa chọn của người khuyết tật. Tương tự, triết học Kant coi con người là mục đích tự thân (an end-in-itself). Vì vậy, tôn trọng phẩm giá không chỉ là bảo vệ cá nhân khỏi rủi ro, mà còn phải thừa nhận ý chí, nguyện vọng và quyền quyết định của họ.
Trong lý thuyết về tự chủ trong quan hệ, Mackenzie (2014) xác định ba chiều cạnh của tự chủ, bao gồm: tự quyết định (self-determination), tức khả năng đưa ra và thực hiện những lựa chọn liên quan đến cuộc sống của mình; tự quản lý (self-governance), tức khả năng suy xét, đánh giá các lựa chọn và điều chỉnh theo những mục tiêu và mong muốn của bản thân; và tự thừa nhận quyền tự quyết của bản thân (self-authorization), hiểu rằng mình có quyền đưa ra lựa chọn và có vị trí bình đẳng trong các quan hệ xã hội.
Như vậy, một người có khả năng lựa chọn nhưng không được tạo điều kiện để lựa chọn vẫn có thể bị hạn chế quyền tự chủ. Chẳng hạn, người khiếm thị biết rõ mình muốn ký kết một giao dịch, nhưng không thể tiếp cận văn bản và cũng không có phương thức kiểm tra thông tin trong văn bản. Khi đó, trở ngại là ở điều kiện để đưa ra và quyết định một cách đầy đủ.
Sự giúp đỡ có thể củng cố hoặc hạn chế quyền tự quyết của người khiếm thị. Khi được tạo điều kiện để tự lựa chọn, quyền tự quyết của họ được củng cố. Ngược lại, việc thường xuyên bị quyết định thay không chỉ thu hẹp cơ hội lựa chọn mà còn có thể làm suy yếu niềm tin của người được hỗ trợ vào quyền tự quyết của chính mình.
Việc quyết định thay đôi khi xuất phát từ mong muốn tốt đẹp là giúp đỡ và bảo vệ người khiếm thị, nhưng hành động ấy vẫn làm hạn chế quyền tự quyết của họ. Lựa chọn của họ chưa phải là tốt nhất trong mắt người khác không đồng nghĩa với việc người khác có quyền quyết định thay. Nếu người khiếm thị chỉ được tự quyết khi lựa chọn của họ phù hợp với ý muốn của người giúp đỡ, quyền tự quyết ấy thực tế chỉ là một sự cho phép có điều kiện.
Tuy nhiên, quyền tự quyết không phải tuyệt đối. Việc can thiệp trái với ý chí của cá nhân chỉ được coi là chính đáng khi cần thiết, có căn cứ pháp luật và vì mục đích hợp pháp. Bên cạnh đó, khi áp dụng biện pháp can thiệp, cần xem xét rằng liệu biện pháp đó có được áp dụng đối với người không bị khuyết tật trong hoàn cảnh tương tự hay không. Nếu biện pháp hạn chế chỉ áp dụng riêng đối với người khiếm thị vì họ khiếm thị, hành vi đó cấu thành sự phân biệt đối xử trái pháp luật.
Thế nhưng, không phải mọi hành vi tác động đến lựa chọn của người khác đều là áp đặt. Ta cần phân biệt ba trường hợp sau: (i) hỗ trợ là cung cấp thông tin, phương tiện hoặc thực hiện thao tác cần thiết để người khác đưa ra và thực hiện lựa chọn của mình; (ii) tư vấn hoặc thuyết phục là trình bày quan điểm, giải thích lợi ích và rủi ro của các phương án nhưng vẫn để người được hỗ trợ tự quyết định; và (iii) áp đặt là tự ý thay thế lựa chọn, gây sức ép hoặc kiểm soát thông tin theo cách làm suy giảm đáng kể khả năng quyết định tự chủ của người được hỗ trợ.
Chẳng hạn, một người khiếm thị muốn mua sản phẩm A. Người hỗ trợ giải thích rằng sản phẩm B có giá tốt hơn và chất lượng hơn. Trường hợp người khiếm thị được biết đầy đủ các phương án và tự nguyện đổi sang sản phẩm B không được coi là hành vi áp đặt. Ngược lại, nếu người hỗ trợ cố tình che giấu thông tin về sản phẩm A, chỉ giới thiệu sản phẩm B và khiến người khiếm thị không biết mình còn lựa chọn khác, quá trình ra quyết định đã bị tác động theo cách có thể làm suy giảm quyền tự chủ.
Như vậy, vấn đề có liên quan nhiều hơn ở việc người hỗ trợ đã gây ảnh hưởng. Lời khuyên dựa trên thông tin trung thực, không gây sức ép và cho phép từ chối khác với hành vi lựa chọn thay hay thao túng thông tin. “Tôn trọng ý chí” là mấu chốt để phân biệt giữa một lời khuyên chân thành và sự can thiệp để làm suy giảm quyền của người khiếm thị.
Ở chiều ngược lại, đôi khi việc từ chối cũng có thể mang tính áp đặt trong những hoàn cảnh nhất định. Chẳng hạn, khi một người khiếm thị chủ động đề nghị được hướng dẫn đường đi nhưng người có trách nhiệm hỗ trợ lại từ chối chỉ vì cho rằng họ cần tự thực hiện để rèn luyện tính độc lập. Trong tình huống này, người hỗ trợ đã lấy quan điểm của mình về điều tốt cho người khác để bác bỏ nhu cầu do chính người đó xác định. [2]
Từ đó, có thể kết luận rằng tôn trọng quyền tự quyết không đồng nghĩa với việc yêu cầu người khiếm thị tự thực hiện mọi công việc mà không cần sự hỗ trợ. Tự chủ không phải là trạng thái không phụ thuộc vào bất kỳ ai, mà là khả năng giữ quyền kiểm soát đối với những lựa chọn liên quan đến bản thân, kể cả khi cần sự trợ giúp để thực hiện chúng.
Từ góc độ tự chủ trong quan hệ, năng lực tự chủ được hình thành và duy trì trong các mối quan hệ xã hội. Sự công nhận, thông tin và hỗ trợ từ người khác có thể mở rộng khả năng lựa chọn, trong khi định kiến, kiểm soát và áp đặt có thể làm suy yếu khả năng ấy. Do đó, sự phụ thuộc lẫn nhau không nhất thiết phải đối lập với quyền tự quyết.
Đối với người khiếm thị, cần phân biệt rõ ràng rằng cần người khác mô tả thông tin được thể hiện qua hình ảnh không có nghĩa là cần người khác lựa chọn thay, nhờ người khác hỗ trợ di chuyển không có nghĩa là trao cho họ quyền quyết định điểm đến, và phụ thuộc trong thực hiện một thao tác không có nghĩa là phụ thuộc trong việc ra quyết định với công việc. Hay nói cách khác, đây là sự tách biệt giữa phụ thuộc về phương tiện (cần kênh tiếp nhận thông tin hoặc thực hiện thao tác) và phụ thuộc vào quyền quyết định (người hỗ trợ áp đặt quyết định); trong đó, chỉ loại phụ thuộc thứ hai mâu thuẫn với quyền tự quyết.
Từ những lập luận trên, ta có thể xác lập nguyên tắc nền tảng của bài nghiên cứu này. Đó là quyền tự quyết không chỉ đòi hỏi người khác không được tự ý quyết định thay, mà còn yêu cầu những điều kiện để cá nhân có thể hình thành, truyền đạt, thực hiện và kiểm chứng lựa chọn của chính mình. Sự giúp đỡ thực sự bảo vệ quyền tự quyết khi mở rộng khả năng đó, thay vì thay thế ý chí của người được hỗ trợ.
Khi nào sự giúp đỡ chuyển hóa thành áp đặt?
Có sự khác biệt giữa “quyền lực” và “áp đặt”. “Quyền lực” được hiểu là khả năng chi phối quá trình quyết định của chủ thể khác, một thuộc tính vốn có trong mối quan hệ hỗ trợ. Trong khi đó, “áp đặt” là việc lạm dụng quyền lực đó nhằm thu hẹp lựa chọn của cá nhân mà không có sự đồng thuận thực chất trong mối quan hệ. Theo đó, phần phân tích này tập trung giải quyết hai câu hỏi trọng tâm: Quyền lực phát sinh trong điều kiện nào? Khi nào việc thực thi quyền lực đó chuyển thành hành vi áp đặt?
Trước hết, giữa người với người, sự bất cân xứng trong khả năng tiếp cận thông tin thị giác có thể tạo ra sự bất cân xứng về quyền lực. Trong một số tình huống, người hỗ trợ giữ vai trò trung gian giữa người khiếm thị và môi trường xung quanh. Họ có thể quyết định thông tin nào được truyền đạt, mức độ chi tiết ra sao và thứ tự trình bày như thế nào. Nếu người hỗ trợ chỉ đọc một số lựa chọn mà họ cho là phù hợp, người khiếm thị có thể đưa ra quyết định trên cơ sở thông tin đã bị lựa chọn trước.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin khác nhau chưa tự động tạo thành sự áp đặt. Để giải thích sự chuyển hóa đó, cần xem xét ít nhất ba điều kiện: (i) người hỗ trợ có khả năng kiểm soát việc lựa chọn, trình bày hoặc diễn giải thông tin không; (ii) người được hỗ trợ có gặp khó khăn trong việc tự kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của thông tin không; và (iii) người được hỗ trợ có gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn thông tin hay phương thức bổ trợ thay thế. Khi hội đủ ba điều kiện này, người hỗ trợ giúp truyền đạt thông tin nhưng vẫn có thể tác động đến những phương án mà người được hỗ trợ được biết và cân nhắc.
Chẳng hạn, nếu người khiếm thị có thể sử dụng trình đọc màn hình bằng âm thanh để kiểm tra lại thông tin, khả năng lựa chọn thông tin một chiều của người hỗ trợ bị hạn chế. Tuy nhiên, nếu họ phụ thuộc hoàn toàn vào một người duy nhất để biết được nội dung tài liệu, người hỗ trợ có thể tác động đáng kể đến việc hình thành quyết định, ngay cả khi không trực tiếp nói rằng người khiếm thị phải chọn phương án nào. Vì vậy, bất cân xứng thông tin là một điều kiện có thể tạo ra quyền lực, chứ không phải bằng chứng rằng mọi quan hệ hỗ trợ đều có tính áp đặt.
Việc giản lược thông tin không nhất thiết xuất phát từ ý định thao túng, mà có thể được thực hiện nhằm tiết kiệm thời gian hoặc tránh gây khó khăn cho người nghe, nhưng kể cả như vậy, quyền lựa chọn đã bị thu hẹp ngay từ giai đoạn tiếp nhận thông tin. Dù vậy, cũng không thể coi mọi hành vi tóm tắt hoặc chọn lọc thông tin đều xâm phạm quyền tự quyết. Trong đời sống, việc trình bày thông tin thường đòi hỏi lựa chọn những nội dung phù hợp với mục đích và nhu cầu của người tiếp nhận. Điều cần xem xét là thông tin có bị lược bỏ theo cách làm sai lệch đáng kể các phương án hay không; người được hỗ trợ có biết rằng thông tin đã được tóm tắt hay không; và họ có thể yêu cầu cung cấp đầy đủ hoặc kiểm tra lại thông tin hay không.
Ví dụ, đề nghị “có mấy món, anh ăn món này đi, dễ ăn lắm” là sự giúp đỡ thiện ý, nhưng khi danh sách đầy đủ không được nêu, quyền lựa chọn đã bị thu hẹp trước khi người khiếm thị kịp lựa chọn. Nếu người khiếm thị yêu cầu người hỗ trợ giới thiệu một vài món phù hợp thì việc chọn lọc thông tin có thể hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu người hỗ trợ tự ý bỏ qua những món khác vì cho rằng người khiếm thị không nên lựa chọn chúng, sự hỗ trợ đã bắt đầu ảnh hưởng đến khả năng tự quyết. Trong trường hợp này, vấn đề là người khuyết tật không có cơ hội tiếp cận và cân nhắc những phương án đã bị bỏ qua.
Ngoài ra, ở cấp quan hệ xã hội, sự giúp đỡ có thể đi kèm với những kỳ vọng về lòng biết ơn và sự đồng thuận. Khi người hỗ trợ được nhìn nhận là đang làm điều tốt, việc người được hỗ trợ từ chối hoặc yêu cầu thay đổi cách giúp đỡ có thể bị coi là thái độ thiếu hợp tác. Thực nghiệm của Wang và cộng sự (2019) cho thấy người khiếm thị bị đánh giá kém thân thiện hơn sau khi từ chối sự giúp đỡ mang tính áp đặt, và Adachi (2020) ghi nhận người khiếm thị phải từ bỏ ý định ban đầu là từ chối sự hỗ trợ mà họ không mong muốn. Trong hoàn cảnh đó, sự đồng ý không phải lúc nào cũng phản ánh một lựa chọn tự nguyện, vì nó có thể chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu duy trì quan hệ hoặc lo ngại mất đi sự hỗ trợ.
Sự phụ thuộc kéo dài có thể làm thay đổi cách một người thể hiện mong muốn của mình. Chẳng hạn, người khiếm thị có thể không phản đối một quyết định vì lo rằng phản đối sẽ khiến người thân không tiếp tục giúp đỡ. Không nhất thiết phải có lời đe dọa trực tiếp thì áp lực mới xuất hiện, áp đặt có thể hình thành từ việc người được hỗ trợ biết rằng mình khó tìm được nguồn hỗ trợ khác. Vì vậy, để đánh giá sự đồng thuận có thực chất không, cần xem xét liệu họ có đủ thông tin, có cơ hội từ chối và có thể tiếp tục tiếp cận sự hỗ trợ cần thiết khi không đồng ý hay không.
Sự hỗ trợ có nguy cơ mang tính áp đặt khi người hỗ trợ kiểm soát những điều kiện cần thiết để người khiếm thị hình thành, truyền đạt, thực hiện hoặc kiểm chứng quyết định, đồng thời sử dụng sự kiểm soát đó để chi phối lựa chọn của họ. Từ đây, chúng tôi đề xuất bốn tiêu chí để xác định một quan hệ hỗ trợ có tôn trọng quyền tự quyết của người khiếm thị hay không.
Trước hết, trong tình huống thông thường, việc hỗ trợ cần xuất phát từ yêu cầu của người khiếm thị. Trong quan hệ phụ thuộc, cần xem xét cả khả năng từ chối của người khiếm thị trên thực tế. Nếu người khiếm thị đồng ý chỉ vì lo sợ mất nguồn hỗ trợ thiết yếu, sự đồng ý đó có thể chưa phản ánh đầy đủ ý chí tự nguyện.
Thứ hai, người hỗ trợ có thể cung cấp thông tin, thực hiện thao tác hoặc giải thích phương án, nhưng không được thay đổi phương án của người khuyết tật. Trường hợp người khiếm thị chủ động ủy quyền cho người khác thực hiện một công việc thì cần phân biệt việc ủy quyền hợp pháp với hành vi tự quyết định thay. Điều quan trọng cần xem xét là nội dung quyết định cuối cùng có phản ánh ý chí của người được hỗ trợ hay không.
Thứ ba, người khiếm thị cần được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và dưới hình thức phù hợp với nhu cầu tiếp cận nhằm giảm sự phụ thuộc không cần thiết vào người trung gian.
Thứ tư, người khiếm thị cần có khả năng lựa chọn người hỗ trợ, yêu cầu điều chỉnh phương thức hỗ trợ hoặc chấm dứt quan hệ hỗ trợ khi điều kiện cho phép. Với những thủ tục liên quan đến quyền và lợi ích quan trọng, cần có cơ chế phản ánh, khiếu nại hoặc yêu cầu khắc phục.
Mọi sự can thiệp không do người khiếm thị yêu cầu phải thỏa mãn các điều kiện đã nêu. Ngoài ra, để đánh giá một sự can thiệp có thực sự hợp lý và công bằng hay không, cần xem xét: nếu người không khiếm thị ở trong hoàn cảnh tương tự, thì họ có bị đối xử như vậy không? Nếu câu trả lời là không, việc can thiệp vào ý chí của người khiếm thị chỉ vì khiếm khuyết của họ cần phải được xem xét và lý giải một cách thuyết phục.
Vì sao áp đặt kiểu giúp đỡ khó bị nhận diện và đôi khi được xem là bình thường?
Thứ nhất, thiện chí của người giúp thường được dùng làm thước đo duy nhất của hành vi giúp đỡ. Truyền thống nhấn mạnh thương người, đùm bọc người yếu thế và trách nhiệm của gia đình đối với thành viên khuyết tật khiến sự giúp đỡ được nhìn nhận như một đức hạnh. Sự áp đặt chủ yếu xuất hiện khi giá trị của hành vi giúp đỡ được đánh giá dựa trên thiện chí của người giúp mà ít quan tâm đến mong muốn của người được giúp. Một người có thể được khen ngợi vì đã làm điều mà họ cho là tốt cho người khiếm thị, dù người khiếm thị không yêu cầu hoặc không đồng ý.
Trong quan hệ gia đình, người thân có thể cho rằng vì mình chịu trách nhiệm chăm sóc nên mình cũng có quyền lựa chọn thay. Tuy nhiên, trách nhiệm chăm sóc không trao cho người chăm sóc quyền thay thế ý chí của người được chăm sóc. Đối với một người có năng lực ra quyết định, việc bảo vệ lợi ích của họ về cơ bản cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng lựa chọn của chính họ, trừ những trường hợp pháp luật cho phép can thiệp. Điều 8 Luật Người khuyết tật 2010 cũng yêu cầu gia đình tôn trọng ý kiến của người khuyết tật khi quyết định các vấn đề liên quan đến cuộc sống của họ.
Thứ hai, áp đặt khó bị nhận diện vì thiếu lựa chọn hỗ trợ thay thế và thiếu kênh phản hồi. Ủy ban về quyền của người khuyết tật (2025) (sau đây gọi là Ủy ban CRPD) ghi nhận rằng khi chương trình sống độc lập mới được triển khai thí điểm ở một số tỉnh, kinh phí cho dịch vụ trợ giúp cá nhân chưa đủ và trợ cấp xã hội chưa tương xứng với chi phí sống độc lập. Khi người khiếm thị không có dịch vụ trợ giúp cá nhân do bị kiểm soát, người thân gần như là kênh duy nhất, dẫn đến quyền thương lượng của họ bị thu hẹp.
Thứ ba, một số cách thức truyền thông về lòng tốt chủ yếu nhấn mạnh sự phụ thuộc và lòng biết ơn, [3] khiến năng lực cũng như tiếng nói của người khuyết tật bị phớt lờ. Việc khắc họa người khiếm thị như những bên thụ động thụ hưởng lòng tốt (như hỗ trợ tài chính) khiến xã hội có thể ít chú ý đến vấn đề là họ có đồng ý với sự giúp đỡ đó hay không và họ có quyền từ chối hay không. Ủy ban CRPD nhận xét chính sách và pháp luật Việt Nam vẫn còn mang dấu ấn của mô hình y học và từ thiện, [4] các chiến dịch nâng cao nhận thức ít được đánh giá hiệu quả trong giảm kỳ thị, và hình ảnh, câu chuyện của người khuyết tật đôi lúc bị dùng để gây quỹ mà chưa được phép.
Các yếu tố trên cho thấy nguy cơ áp đặt trong quan hệ hỗ trợ có thể được tạo ra hoặc duy trì bởi điều kiện xã hội. Xã hội đề cao thiện chí nhưng thiếu lựa chọn hỗ trợ thay thế và duy trì những khuôn mẫu về sự phụ thuộc của người khiếm thị thì quyền tự quyết của nhóm đối tượng này có thể bị hạn chế ngay cả khi người hỗ trợ không có ý định gây hại.
Sự hỗ trợ trong bầu cử
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi tắt là Luật Bầu cử), bầu cử được tiến hành theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Điều 69 Luật Bầu cử quy định cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay, đồng thời cho phép người không thể tự viết phiếu nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu. Người viết hộ có nghĩa vụ bảo đảm bí mật phiếu bầu. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không thể tự bỏ phiếu vào hòm phiếu thì được nhờ người khác thực hiện thao tác này. Đối với người không thể đến nơi bỏ phiếu, Tổ bầu cử có trách nhiệm mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở hoặc nơi điều trị theo quy định. Những quy định trên thể hiện nỗ lực dung hòa nguyên tắc trực tiếp bỏ phiếu với nhu cầu hỗ trợ của những cử tri gặp khó khăn trong việc thực hiện các thao tác bầu cử.
Đối chiếu thực tiễn bầu cử tại Việt Nam với bốn tiêu chí xác định một quan hệ hỗ trợ tôn trọng quyền tự quyết của người khiếm thị đã được trình bày, có thể thấy vẫn còn những hạn chế về cả quy định pháp luật và thực tiễn thực thi trong việc bảo đảm quyền tự quyết của người khuyết tật.
Đối với sự đồng thuận, pháp luật hiện chưa quy định rõ ai có quyền lựa chọn người viết hộ, trong khi Điều 29 CRPD yêu cầu việc lựa chọn người hỗ trợ phải do chính cử tri lựa chọn. Đối với việc bảo đảm ý chí của cử tri, khi cử tri khiếm thị đọc lựa chọn của mình cho người viết hộ, không có cơ chế để kiểm chứng liệu nội dung được ghi có chính xác với lựa chọn của cử tri hay không. Về khả năng tiếp cận thông tin, tại kỳ bầu cử ngày 15/3/2026, nhiều địa phương tổ chức tuyên truyền riêng cho cử tri khiếm thị, điển hình như tại phường Bình Thạnh (TP. Hồ Chí Minh). Người khiếm thị đã được nghe phổ biến về những quy định chung của pháp luật về bầu cử, những thông tin cơ bản về hoạt động bầu cử tại khu vực sinh sống, đặc biệt được cung cấp tài liệu về các ứng viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân bằng chữ nổi Braille. Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận và nên được nhân rộng tới các địa phương trong cả nước. Và với tiêu chí cuối cùng, Điều 69 Luật Bầu cử không đề cập đến quyền yêu cầu thay đổi người viết hộ hay kênh phản ánh dành cho cử tri khuyết tật tại nơi bỏ phiếu.
Để bảo đảm quyền tự quyết của người khiếm thị, theo chúng tôi, cần ưu tiên thực hiện các biện pháp sau: (1) cung cấp tài liệu để người khiếm thị có thể tiếp cận thông tin như chữ nổi, âm thanh và công nghệ tương thích với trình đọc màn hình; (2) bảo đảm người khiếm thị có thể tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ cá nhân phù hợp với nhu cầu của họ, có nguồn hỗ trợ kinh phí lâu dài, bền vững; (3) người khiếm thị được hỗ trợ bởi người thân, bạn bè hoặc các đối tượng liên quan, nhưng phải bảo đảm đáp ứng bốn tiêu chí chúng tôi đã nêu ở phần trên; (4) người khiếm thị được hỗ trợ ra quyết định (như tư vấn, giải thích); và (5) can thiệp thay thế chỉ khi pháp luật cho phép và thực sự cần thiết.
Nguyên tắc chung là ưu tiên biện pháp ít xâm phạm quyền tự quyết và quyền riêng tư của người khiếm thị. Mọi chính sách hỗ trợ cần được đánh giá dựa trên việc tăng cường quyền tự quyết của người khiếm thị trong đời sống của họ.
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ công hoặc thực hiện giao dịch dân sự, cần lồng ghép các phương tiện hỗ trợ tiếp cận thông tin bằng các phương tiện hỗ trợ khác nhau thay vì mặc nhiên coi việc có người làm chứng hoặc người phiên dịch là giải pháp. Các cơ quan và tổ chức cung cấp dịch vụ nên tạo điều kiện để người khiếm thị tiếp cận trực tiếp nội dung văn bản khi có phương tiện phù hợp.
Ở bình diện xã hội, cần khuyến khích chuyển đổi cách truyền thông hình ảnh người khiếm thị: từ đối tượng thụ hưởng lòng tốt sang những chủ thể có năng lực, có thể tự quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình. Những chương trình nâng cao nhận thức có thể bắt đầu từ lan tỏa nguyên tắc ứng xử cơ bản: hỏi trước khi hỗ trợ, trao đổi trực tiếp với người được hỗ trợ, và tôn trọng quyền từ chối của họ.
Về lâu dài, việc bảo đảm quyền tự quyết cần kết hợp hai yêu cầu: giới hạn những hành vi hỗ trợ mang tính áp đặt và tạo các điều kiện thuận lợi để người khiếm thị có thể thực sự kiểm soát quyết định của mình.
***
Tóm lại, sự giúp đỡ và quyền tự quyết không đối lập nhau. Trái lại, trong nhiều trường hợp, sự hỗ trợ là điều kiện cần thiết để người khiếm thị có thể thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền tự quyết của người khiếm thị cần được bảo đảm bằng khả năng hình thành, truyền đạt, thực hiện và kiểm chứng lựa chọn. Phẩm giá của nhóm đối tượng này không chỉ được bảo vệ khi xã hội sẵn sàng giúp đỡ họ, mà còn khi xã hội thừa nhận quyền của họ trong việc quyết định mình cần được giúp đỡ như thế nào.
Ghi chú:
[1] Người khiếm thị là người bị suy giảm thị lực không thể phục hồi triệt để, phần thị lực còn lại không đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt và lao động thường ngày. Để phân biệt người khiếm thị và người mù, xem thêm tại: https://ome.edu.vn/tin-tuc/khiem-thi-la-benh-gi-phan-biet-khiem-thi-va-mu.
[2] Điều kiện là người từ chối có nghĩa vụ pháp lý hoặc trách nhiệm đáp ứng yêu cầu chính đáng của cá nhân. Việc một người lạ, vốn không mang nghĩa vụ pháp lý, từ chối giúp đỡ không thể coi là hành vi áp đặt.
[3] Phương thức truyền thông này, thường được gọi là “pity porn”, miêu tả người khuyết tật theo chiều hướng bất hạnh, đáng thương và thụ động nhằm khơi gợi lòng trắc ẩn của công chúng để phục vụ cho các chiến dịch quyên góp hoặc thu hút sự chú ý của họ. Việc này vô hình trung làm lệch lạc nhận thức của xã hội về năng lực và vị thế của người khuyết tật. Xem thêm tại: https://themighty.com/topic/disability/pity-porn-advertising-disability/.
[4] Mô hình y học về khuyết tật là cách tiếp cận xem khuyết tật chủ yếu xuất phát từ những khiếm khuyết, bệnh lý học sự suy giảm chức năng của cơ thể. Theo mô hình này, nguyên nhân của những khó khăn mà người khuyết tật gặp phải chủ yếu ở bản thân người đó, vì vậy cần sử dụng các biện pháp y tế như khám chữa bệnh, điều trị, phục hồi chức năng hoặc hỗ trợ bằng thiết bị y tế để cải thiện tình trạng. Xem thêm tại: https://now.aapmr.org/conceptual-models-of-disability/.
Nguyễn Thị Bích là cử nhân chuyên ngành Luật thương mại quốc tế tại Học viện Ngoại giao. Bích quan tâm đến pháp luật thương mại quốc tế, đặc biệt là khung pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cùng các vấn đề về thương mại xanh và thương mại số. Email liên hệ: [email protected].
Phan Thanh Trường là cử nhân chuyên ngành Châu Á - Thái Bình Dương tại Học viện Ngoại giao. Trường quan tâm đến hệ thống chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Email liên hệ: [email protected].
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Phẩm giá và công bằng xã hội cho nhóm yếu thế”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Sự giúp đỡ và quyền tự quyết của người khiếm thị
Sự giúp đỡ dành cho người khiếm thị thường xuất phát từ mong muốn họ vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống. [1] Tuy nhiên, khi người giúp đỡ tự ý quyết định điều gì là tốt nhất cho người được giúp, sự hỗ trợ có thể trở thành hành vi áp đặt. Do đó, ta cần hiểu rõ mối quan hệ giữa nhu cầu hỗ trợ và quyền tự quyết của người khiếm thị.
Để làm rõ mối quan hệ này, trước hết cần phân biệt năng lực ra quyết định, quyền tự quyết và điều kiện thực hiện quyền tự quyết. Năng lực ra quyết định là khả năng hiểu thông tin, cân nhắc các phương án và hình thành lựa chọn. Quyền tự quyết là quyền của cá nhân được quyết định những vấn đề thuộc phạm vi quyền của mình. Trong khi đó, điều kiện thực hiện quyền tự quyết gồm thông tin, phương tiện và sự hỗ trợ cần thiết để cá nhân có thể hình thành, truyền đạt và thực hiện lựa chọn. Nhưng một người có đầy đủ năng lực ra quyết định vẫn có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền tự quyết nếu thiếu phương tiện phù hợp.
Trong triết học, tự chủ là khả năng cá nhân định hướng và quyết định hành động của mình. Theo Immanuel Kant, tự chủ đạo đức thể hiện ở khả năng sử dụng lý trí để xác lập và tuân theo các nguyên tắc đạo đức, thay vì chỉ phục tùng ý chí của người khác. Nói cách khác, người tự chủ là người có khả năng nhận thức, đưa ra quyết định, bày tỏ ý chí và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Khái niệm này bao gồm phần lớn người trưởng thành không mắc bệnh lý làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tự quyết định. Về pháp lý, Điều 12 Công ước về quyền của người khuyết tật (sau đây gọi là CRPD) khẳng định người khuyết tật có năng lực pháp lý bình đẳng với người khác; Điều 22-24 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ cho phép Tòa án tuyên bố một người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự trong những trường hợp luật định. Khiếm thị không phải căn cứ để hạn chế năng lực này. Điều 3(a) CRPD cũng yêu cầu tôn trọng phẩm giá vốn có, quyền tự chủ và tự do lựa chọn của người khuyết tật. Tương tự, triết học Kant coi con người là mục đích tự thân (an end-in-itself). Vì vậy, tôn trọng phẩm giá không chỉ là bảo vệ cá nhân khỏi rủi ro, mà còn phải thừa nhận ý chí, nguyện vọng và quyền quyết định của họ.
Trong lý thuyết về tự chủ trong quan hệ, Mackenzie (2014) xác định ba chiều cạnh của tự chủ, bao gồm: tự quyết định (self-determination), tức khả năng đưa ra và thực hiện những lựa chọn liên quan đến cuộc sống của mình; tự quản lý (self-governance), tức khả năng suy xét, đánh giá các lựa chọn và điều chỉnh theo những mục tiêu và mong muốn của bản thân; và tự thừa nhận quyền tự quyết của bản thân (self-authorization), hiểu rằng mình có quyền đưa ra lựa chọn và có vị trí bình đẳng trong các quan hệ xã hội.
Như vậy, một người có khả năng lựa chọn nhưng không được tạo điều kiện để lựa chọn vẫn có thể bị hạn chế quyền tự chủ. Chẳng hạn, người khiếm thị biết rõ mình muốn ký kết một giao dịch, nhưng không thể tiếp cận văn bản và cũng không có phương thức kiểm tra thông tin trong văn bản. Khi đó, trở ngại là ở điều kiện để đưa ra và quyết định một cách đầy đủ.
Sự giúp đỡ có thể củng cố hoặc hạn chế quyền tự quyết của người khiếm thị. Khi được tạo điều kiện để tự lựa chọn, quyền tự quyết của họ được củng cố. Ngược lại, việc thường xuyên bị quyết định thay không chỉ thu hẹp cơ hội lựa chọn mà còn có thể làm suy yếu niềm tin của người được hỗ trợ vào quyền tự quyết của chính mình.
Việc quyết định thay đôi khi xuất phát từ mong muốn tốt đẹp là giúp đỡ và bảo vệ người khiếm thị, nhưng hành động ấy vẫn làm hạn chế quyền tự quyết của họ. Lựa chọn của họ chưa phải là tốt nhất trong mắt người khác không đồng nghĩa với việc người khác có quyền quyết định thay. Nếu người khiếm thị chỉ được tự quyết khi lựa chọn của họ phù hợp với ý muốn của người giúp đỡ, quyền tự quyết ấy thực tế chỉ là một sự cho phép có điều kiện.
Tuy nhiên, quyền tự quyết không phải tuyệt đối. Việc can thiệp trái với ý chí của cá nhân chỉ được coi là chính đáng khi cần thiết, có căn cứ pháp luật và vì mục đích hợp pháp. Bên cạnh đó, khi áp dụng biện pháp can thiệp, cần xem xét rằng liệu biện pháp đó có được áp dụng đối với người không bị khuyết tật trong hoàn cảnh tương tự hay không. Nếu biện pháp hạn chế chỉ áp dụng riêng đối với người khiếm thị vì họ khiếm thị, hành vi đó cấu thành sự phân biệt đối xử trái pháp luật.
Thế nhưng, không phải mọi hành vi tác động đến lựa chọn của người khác đều là áp đặt. Ta cần phân biệt ba trường hợp sau: (i) hỗ trợ là cung cấp thông tin, phương tiện hoặc thực hiện thao tác cần thiết để người khác đưa ra và thực hiện lựa chọn của mình; (ii) tư vấn hoặc thuyết phục là trình bày quan điểm, giải thích lợi ích và rủi ro của các phương án nhưng vẫn để người được hỗ trợ tự quyết định; và (iii) áp đặt là tự ý thay thế lựa chọn, gây sức ép hoặc kiểm soát thông tin theo cách làm suy giảm đáng kể khả năng quyết định tự chủ của người được hỗ trợ.
Chẳng hạn, một người khiếm thị muốn mua sản phẩm A. Người hỗ trợ giải thích rằng sản phẩm B có giá tốt hơn và chất lượng hơn. Trường hợp người khiếm thị được biết đầy đủ các phương án và tự nguyện đổi sang sản phẩm B không được coi là hành vi áp đặt. Ngược lại, nếu người hỗ trợ cố tình che giấu thông tin về sản phẩm A, chỉ giới thiệu sản phẩm B và khiến người khiếm thị không biết mình còn lựa chọn khác, quá trình ra quyết định đã bị tác động theo cách có thể làm suy giảm quyền tự chủ.
Như vậy, vấn đề có liên quan nhiều hơn ở việc người hỗ trợ đã gây ảnh hưởng. Lời khuyên dựa trên thông tin trung thực, không gây sức ép và cho phép từ chối khác với hành vi lựa chọn thay hay thao túng thông tin. “Tôn trọng ý chí” là mấu chốt để phân biệt giữa một lời khuyên chân thành và sự can thiệp để làm suy giảm quyền của người khiếm thị.
Ở chiều ngược lại, đôi khi việc từ chối cũng có thể mang tính áp đặt trong những hoàn cảnh nhất định. Chẳng hạn, khi một người khiếm thị chủ động đề nghị được hướng dẫn đường đi nhưng người có trách nhiệm hỗ trợ lại từ chối chỉ vì cho rằng họ cần tự thực hiện để rèn luyện tính độc lập. Trong tình huống này, người hỗ trợ đã lấy quan điểm của mình về điều tốt cho người khác để bác bỏ nhu cầu do chính người đó xác định. [2]
Từ đó, có thể kết luận rằng tôn trọng quyền tự quyết không đồng nghĩa với việc yêu cầu người khiếm thị tự thực hiện mọi công việc mà không cần sự hỗ trợ. Tự chủ không phải là trạng thái không phụ thuộc vào bất kỳ ai, mà là khả năng giữ quyền kiểm soát đối với những lựa chọn liên quan đến bản thân, kể cả khi cần sự trợ giúp để thực hiện chúng.
Từ góc độ tự chủ trong quan hệ, năng lực tự chủ được hình thành và duy trì trong các mối quan hệ xã hội. Sự công nhận, thông tin và hỗ trợ từ người khác có thể mở rộng khả năng lựa chọn, trong khi định kiến, kiểm soát và áp đặt có thể làm suy yếu khả năng ấy. Do đó, sự phụ thuộc lẫn nhau không nhất thiết phải đối lập với quyền tự quyết.
Đối với người khiếm thị, cần phân biệt rõ ràng rằng cần người khác mô tả thông tin được thể hiện qua hình ảnh không có nghĩa là cần người khác lựa chọn thay, nhờ người khác hỗ trợ di chuyển không có nghĩa là trao cho họ quyền quyết định điểm đến, và phụ thuộc trong thực hiện một thao tác không có nghĩa là phụ thuộc trong việc ra quyết định với công việc. Hay nói cách khác, đây là sự tách biệt giữa phụ thuộc về phương tiện (cần kênh tiếp nhận thông tin hoặc thực hiện thao tác) và phụ thuộc vào quyền quyết định (người hỗ trợ áp đặt quyết định); trong đó, chỉ loại phụ thuộc thứ hai mâu thuẫn với quyền tự quyết.
Từ những lập luận trên, ta có thể xác lập nguyên tắc nền tảng của bài nghiên cứu này. Đó là quyền tự quyết không chỉ đòi hỏi người khác không được tự ý quyết định thay, mà còn yêu cầu những điều kiện để cá nhân có thể hình thành, truyền đạt, thực hiện và kiểm chứng lựa chọn của chính mình. Sự giúp đỡ thực sự bảo vệ quyền tự quyết khi mở rộng khả năng đó, thay vì thay thế ý chí của người được hỗ trợ.
Khi nào sự giúp đỡ chuyển hóa thành áp đặt?
Có sự khác biệt giữa “quyền lực” và “áp đặt”. “Quyền lực” được hiểu là khả năng chi phối quá trình quyết định của chủ thể khác, một thuộc tính vốn có trong mối quan hệ hỗ trợ. Trong khi đó, “áp đặt” là việc lạm dụng quyền lực đó nhằm thu hẹp lựa chọn của cá nhân mà không có sự đồng thuận thực chất trong mối quan hệ. Theo đó, phần phân tích này tập trung giải quyết hai câu hỏi trọng tâm: Quyền lực phát sinh trong điều kiện nào? Khi nào việc thực thi quyền lực đó chuyển thành hành vi áp đặt?
Trước hết, giữa người với người, sự bất cân xứng trong khả năng tiếp cận thông tin thị giác có thể tạo ra sự bất cân xứng về quyền lực. Trong một số tình huống, người hỗ trợ giữ vai trò trung gian giữa người khiếm thị và môi trường xung quanh. Họ có thể quyết định thông tin nào được truyền đạt, mức độ chi tiết ra sao và thứ tự trình bày như thế nào. Nếu người hỗ trợ chỉ đọc một số lựa chọn mà họ cho là phù hợp, người khiếm thị có thể đưa ra quyết định trên cơ sở thông tin đã bị lựa chọn trước.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thông tin khác nhau chưa tự động tạo thành sự áp đặt. Để giải thích sự chuyển hóa đó, cần xem xét ít nhất ba điều kiện: (i) người hỗ trợ có khả năng kiểm soát việc lựa chọn, trình bày hoặc diễn giải thông tin không; (ii) người được hỗ trợ có gặp khó khăn trong việc tự kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của thông tin không; và (iii) người được hỗ trợ có gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn thông tin hay phương thức bổ trợ thay thế. Khi hội đủ ba điều kiện này, người hỗ trợ giúp truyền đạt thông tin nhưng vẫn có thể tác động đến những phương án mà người được hỗ trợ được biết và cân nhắc.
Chẳng hạn, nếu người khiếm thị có thể sử dụng trình đọc màn hình bằng âm thanh để kiểm tra lại thông tin, khả năng lựa chọn thông tin một chiều của người hỗ trợ bị hạn chế. Tuy nhiên, nếu họ phụ thuộc hoàn toàn vào một người duy nhất để biết được nội dung tài liệu, người hỗ trợ có thể tác động đáng kể đến việc hình thành quyết định, ngay cả khi không trực tiếp nói rằng người khiếm thị phải chọn phương án nào. Vì vậy, bất cân xứng thông tin là một điều kiện có thể tạo ra quyền lực, chứ không phải bằng chứng rằng mọi quan hệ hỗ trợ đều có tính áp đặt.
Việc giản lược thông tin không nhất thiết xuất phát từ ý định thao túng, mà có thể được thực hiện nhằm tiết kiệm thời gian hoặc tránh gây khó khăn cho người nghe, nhưng kể cả như vậy, quyền lựa chọn đã bị thu hẹp ngay từ giai đoạn tiếp nhận thông tin. Dù vậy, cũng không thể coi mọi hành vi tóm tắt hoặc chọn lọc thông tin đều xâm phạm quyền tự quyết. Trong đời sống, việc trình bày thông tin thường đòi hỏi lựa chọn những nội dung phù hợp với mục đích và nhu cầu của người tiếp nhận. Điều cần xem xét là thông tin có bị lược bỏ theo cách làm sai lệch đáng kể các phương án hay không; người được hỗ trợ có biết rằng thông tin đã được tóm tắt hay không; và họ có thể yêu cầu cung cấp đầy đủ hoặc kiểm tra lại thông tin hay không.
Ví dụ, đề nghị “có mấy món, anh ăn món này đi, dễ ăn lắm” là sự giúp đỡ thiện ý, nhưng khi danh sách đầy đủ không được nêu, quyền lựa chọn đã bị thu hẹp trước khi người khiếm thị kịp lựa chọn. Nếu người khiếm thị yêu cầu người hỗ trợ giới thiệu một vài món phù hợp thì việc chọn lọc thông tin có thể hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu người hỗ trợ tự ý bỏ qua những món khác vì cho rằng người khiếm thị không nên lựa chọn chúng, sự hỗ trợ đã bắt đầu ảnh hưởng đến khả năng tự quyết. Trong trường hợp này, vấn đề là người khuyết tật không có cơ hội tiếp cận và cân nhắc những phương án đã bị bỏ qua.
Ngoài ra, ở cấp quan hệ xã hội, sự giúp đỡ có thể đi kèm với những kỳ vọng về lòng biết ơn và sự đồng thuận. Khi người hỗ trợ được nhìn nhận là đang làm điều tốt, việc người được hỗ trợ từ chối hoặc yêu cầu thay đổi cách giúp đỡ có thể bị coi là thái độ thiếu hợp tác. Thực nghiệm của Wang và cộng sự (2019) cho thấy người khiếm thị bị đánh giá kém thân thiện hơn sau khi từ chối sự giúp đỡ mang tính áp đặt, và Adachi (2020) ghi nhận người khiếm thị phải từ bỏ ý định ban đầu là từ chối sự hỗ trợ mà họ không mong muốn. Trong hoàn cảnh đó, sự đồng ý không phải lúc nào cũng phản ánh một lựa chọn tự nguyện, vì nó có thể chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu duy trì quan hệ hoặc lo ngại mất đi sự hỗ trợ.
Sự phụ thuộc kéo dài có thể làm thay đổi cách một người thể hiện mong muốn của mình. Chẳng hạn, người khiếm thị có thể không phản đối một quyết định vì lo rằng phản đối sẽ khiến người thân không tiếp tục giúp đỡ. Không nhất thiết phải có lời đe dọa trực tiếp thì áp lực mới xuất hiện, áp đặt có thể hình thành từ việc người được hỗ trợ biết rằng mình khó tìm được nguồn hỗ trợ khác. Vì vậy, để đánh giá sự đồng thuận có thực chất không, cần xem xét liệu họ có đủ thông tin, có cơ hội từ chối và có thể tiếp tục tiếp cận sự hỗ trợ cần thiết khi không đồng ý hay không.
Sự hỗ trợ có nguy cơ mang tính áp đặt khi người hỗ trợ kiểm soát những điều kiện cần thiết để người khiếm thị hình thành, truyền đạt, thực hiện hoặc kiểm chứng quyết định, đồng thời sử dụng sự kiểm soát đó để chi phối lựa chọn của họ. Từ đây, chúng tôi đề xuất bốn tiêu chí để xác định một quan hệ hỗ trợ có tôn trọng quyền tự quyết của người khiếm thị hay không.
Trước hết, trong tình huống thông thường, việc hỗ trợ cần xuất phát từ yêu cầu của người khiếm thị. Trong quan hệ phụ thuộc, cần xem xét cả khả năng từ chối của người khiếm thị trên thực tế. Nếu người khiếm thị đồng ý chỉ vì lo sợ mất nguồn hỗ trợ thiết yếu, sự đồng ý đó có thể chưa phản ánh đầy đủ ý chí tự nguyện.
Thứ hai, người hỗ trợ có thể cung cấp thông tin, thực hiện thao tác hoặc giải thích phương án, nhưng không được thay đổi phương án của người khuyết tật. Trường hợp người khiếm thị chủ động ủy quyền cho người khác thực hiện một công việc thì cần phân biệt việc ủy quyền hợp pháp với hành vi tự quyết định thay. Điều quan trọng cần xem xét là nội dung quyết định cuối cùng có phản ánh ý chí của người được hỗ trợ hay không.
Thứ ba, người khiếm thị cần được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và dưới hình thức phù hợp với nhu cầu tiếp cận nhằm giảm sự phụ thuộc không cần thiết vào người trung gian.
Thứ tư, người khiếm thị cần có khả năng lựa chọn người hỗ trợ, yêu cầu điều chỉnh phương thức hỗ trợ hoặc chấm dứt quan hệ hỗ trợ khi điều kiện cho phép. Với những thủ tục liên quan đến quyền và lợi ích quan trọng, cần có cơ chế phản ánh, khiếu nại hoặc yêu cầu khắc phục.
Mọi sự can thiệp không do người khiếm thị yêu cầu phải thỏa mãn các điều kiện đã nêu. Ngoài ra, để đánh giá một sự can thiệp có thực sự hợp lý và công bằng hay không, cần xem xét: nếu người không khiếm thị ở trong hoàn cảnh tương tự, thì họ có bị đối xử như vậy không? Nếu câu trả lời là không, việc can thiệp vào ý chí của người khiếm thị chỉ vì khiếm khuyết của họ cần phải được xem xét và lý giải một cách thuyết phục.
Vì sao áp đặt kiểu giúp đỡ khó bị nhận diện và đôi khi được xem là bình thường?
Thứ nhất, thiện chí của người giúp thường được dùng làm thước đo duy nhất của hành vi giúp đỡ. Truyền thống nhấn mạnh thương người, đùm bọc người yếu thế và trách nhiệm của gia đình đối với thành viên khuyết tật khiến sự giúp đỡ được nhìn nhận như một đức hạnh. Sự áp đặt chủ yếu xuất hiện khi giá trị của hành vi giúp đỡ được đánh giá dựa trên thiện chí của người giúp mà ít quan tâm đến mong muốn của người được giúp. Một người có thể được khen ngợi vì đã làm điều mà họ cho là tốt cho người khiếm thị, dù người khiếm thị không yêu cầu hoặc không đồng ý.
Trong quan hệ gia đình, người thân có thể cho rằng vì mình chịu trách nhiệm chăm sóc nên mình cũng có quyền lựa chọn thay. Tuy nhiên, trách nhiệm chăm sóc không trao cho người chăm sóc quyền thay thế ý chí của người được chăm sóc. Đối với một người có năng lực ra quyết định, việc bảo vệ lợi ích của họ về cơ bản cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng lựa chọn của chính họ, trừ những trường hợp pháp luật cho phép can thiệp. Điều 8 Luật Người khuyết tật 2010 cũng yêu cầu gia đình tôn trọng ý kiến của người khuyết tật khi quyết định các vấn đề liên quan đến cuộc sống của họ.
Thứ hai, áp đặt khó bị nhận diện vì thiếu lựa chọn hỗ trợ thay thế và thiếu kênh phản hồi. Ủy ban về quyền của người khuyết tật (2025) (sau đây gọi là Ủy ban CRPD) ghi nhận rằng khi chương trình sống độc lập mới được triển khai thí điểm ở một số tỉnh, kinh phí cho dịch vụ trợ giúp cá nhân chưa đủ và trợ cấp xã hội chưa tương xứng với chi phí sống độc lập. Khi người khiếm thị không có dịch vụ trợ giúp cá nhân do bị kiểm soát, người thân gần như là kênh duy nhất, dẫn đến quyền thương lượng của họ bị thu hẹp.
Thứ ba, một số cách thức truyền thông về lòng tốt chủ yếu nhấn mạnh sự phụ thuộc và lòng biết ơn, [3] khiến năng lực cũng như tiếng nói của người khuyết tật bị phớt lờ. Việc khắc họa người khiếm thị như những bên thụ động thụ hưởng lòng tốt (như hỗ trợ tài chính) khiến xã hội có thể ít chú ý đến vấn đề là họ có đồng ý với sự giúp đỡ đó hay không và họ có quyền từ chối hay không. Ủy ban CRPD nhận xét chính sách và pháp luật Việt Nam vẫn còn mang dấu ấn của mô hình y học và từ thiện, [4] các chiến dịch nâng cao nhận thức ít được đánh giá hiệu quả trong giảm kỳ thị, và hình ảnh, câu chuyện của người khuyết tật đôi lúc bị dùng để gây quỹ mà chưa được phép.
Các yếu tố trên cho thấy nguy cơ áp đặt trong quan hệ hỗ trợ có thể được tạo ra hoặc duy trì bởi điều kiện xã hội. Xã hội đề cao thiện chí nhưng thiếu lựa chọn hỗ trợ thay thế và duy trì những khuôn mẫu về sự phụ thuộc của người khiếm thị thì quyền tự quyết của nhóm đối tượng này có thể bị hạn chế ngay cả khi người hỗ trợ không có ý định gây hại.
Sự hỗ trợ trong bầu cử
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (sau đây gọi tắt là Luật Bầu cử), bầu cử được tiến hành theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Điều 69 Luật Bầu cử quy định cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay, đồng thời cho phép người không thể tự viết phiếu nhờ người khác viết hộ nhưng phải tự mình bỏ phiếu. Người viết hộ có nghĩa vụ bảo đảm bí mật phiếu bầu. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không thể tự bỏ phiếu vào hòm phiếu thì được nhờ người khác thực hiện thao tác này. Đối với người không thể đến nơi bỏ phiếu, Tổ bầu cử có trách nhiệm mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở hoặc nơi điều trị theo quy định. Những quy định trên thể hiện nỗ lực dung hòa nguyên tắc trực tiếp bỏ phiếu với nhu cầu hỗ trợ của những cử tri gặp khó khăn trong việc thực hiện các thao tác bầu cử.
Đối chiếu thực tiễn bầu cử tại Việt Nam với bốn tiêu chí xác định một quan hệ hỗ trợ tôn trọng quyền tự quyết của người khiếm thị đã được trình bày, có thể thấy vẫn còn những hạn chế về cả quy định pháp luật và thực tiễn thực thi trong việc bảo đảm quyền tự quyết của người khuyết tật.
Đối với sự đồng thuận, pháp luật hiện chưa quy định rõ ai có quyền lựa chọn người viết hộ, trong khi Điều 29 CRPD yêu cầu việc lựa chọn người hỗ trợ phải do chính cử tri lựa chọn. Đối với việc bảo đảm ý chí của cử tri, khi cử tri khiếm thị đọc lựa chọn của mình cho người viết hộ, không có cơ chế để kiểm chứng liệu nội dung được ghi có chính xác với lựa chọn của cử tri hay không. Về khả năng tiếp cận thông tin, tại kỳ bầu cử ngày 15/3/2026, nhiều địa phương tổ chức tuyên truyền riêng cho cử tri khiếm thị, điển hình như tại phường Bình Thạnh (TP. Hồ Chí Minh). Người khiếm thị đã được nghe phổ biến về những quy định chung của pháp luật về bầu cử, những thông tin cơ bản về hoạt động bầu cử tại khu vực sinh sống, đặc biệt được cung cấp tài liệu về các ứng viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân bằng chữ nổi Braille. Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận và nên được nhân rộng tới các địa phương trong cả nước. Và với tiêu chí cuối cùng, Điều 69 Luật Bầu cử không đề cập đến quyền yêu cầu thay đổi người viết hộ hay kênh phản ánh dành cho cử tri khuyết tật tại nơi bỏ phiếu.
Để bảo đảm quyền tự quyết của người khiếm thị, theo chúng tôi, cần ưu tiên thực hiện các biện pháp sau: (1) cung cấp tài liệu để người khiếm thị có thể tiếp cận thông tin như chữ nổi, âm thanh và công nghệ tương thích với trình đọc màn hình; (2) bảo đảm người khiếm thị có thể tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ cá nhân phù hợp với nhu cầu của họ, có nguồn hỗ trợ kinh phí lâu dài, bền vững; (3) người khiếm thị được hỗ trợ bởi người thân, bạn bè hoặc các đối tượng liên quan, nhưng phải bảo đảm đáp ứng bốn tiêu chí chúng tôi đã nêu ở phần trên; (4) người khiếm thị được hỗ trợ ra quyết định (như tư vấn, giải thích); và (5) can thiệp thay thế chỉ khi pháp luật cho phép và thực sự cần thiết.
Nguyên tắc chung là ưu tiên biện pháp ít xâm phạm quyền tự quyết và quyền riêng tư của người khiếm thị. Mọi chính sách hỗ trợ cần được đánh giá dựa trên việc tăng cường quyền tự quyết của người khiếm thị trong đời sống của họ.
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ công hoặc thực hiện giao dịch dân sự, cần lồng ghép các phương tiện hỗ trợ tiếp cận thông tin bằng các phương tiện hỗ trợ khác nhau thay vì mặc nhiên coi việc có người làm chứng hoặc người phiên dịch là giải pháp. Các cơ quan và tổ chức cung cấp dịch vụ nên tạo điều kiện để người khiếm thị tiếp cận trực tiếp nội dung văn bản khi có phương tiện phù hợp.
Ở bình diện xã hội, cần khuyến khích chuyển đổi cách truyền thông hình ảnh người khiếm thị: từ đối tượng thụ hưởng lòng tốt sang những chủ thể có năng lực, có thể tự quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình. Những chương trình nâng cao nhận thức có thể bắt đầu từ lan tỏa nguyên tắc ứng xử cơ bản: hỏi trước khi hỗ trợ, trao đổi trực tiếp với người được hỗ trợ, và tôn trọng quyền từ chối của họ.
Về lâu dài, việc bảo đảm quyền tự quyết cần kết hợp hai yêu cầu: giới hạn những hành vi hỗ trợ mang tính áp đặt và tạo các điều kiện thuận lợi để người khiếm thị có thể thực sự kiểm soát quyết định của mình.
***
Tóm lại, sự giúp đỡ và quyền tự quyết không đối lập nhau. Trái lại, trong nhiều trường hợp, sự hỗ trợ là điều kiện cần thiết để người khiếm thị có thể thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền tự quyết của người khiếm thị cần được bảo đảm bằng khả năng hình thành, truyền đạt, thực hiện và kiểm chứng lựa chọn. Phẩm giá của nhóm đối tượng này không chỉ được bảo vệ khi xã hội sẵn sàng giúp đỡ họ, mà còn khi xã hội thừa nhận quyền của họ trong việc quyết định mình cần được giúp đỡ như thế nào.
Ghi chú:
[1] Người khiếm thị là người bị suy giảm thị lực không thể phục hồi triệt để, phần thị lực còn lại không đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt và lao động thường ngày. Để phân biệt người khiếm thị và người mù, xem thêm tại: https://ome.edu.vn/tin-tuc/khiem-thi-la-benh-gi-phan-biet-khiem-thi-va-mu.
[2] Điều kiện là người từ chối có nghĩa vụ pháp lý hoặc trách nhiệm đáp ứng yêu cầu chính đáng của cá nhân. Việc một người lạ, vốn không mang nghĩa vụ pháp lý, từ chối giúp đỡ không thể coi là hành vi áp đặt.
[3] Phương thức truyền thông này, thường được gọi là “pity porn”, miêu tả người khuyết tật theo chiều hướng bất hạnh, đáng thương và thụ động nhằm khơi gợi lòng trắc ẩn của công chúng để phục vụ cho các chiến dịch quyên góp hoặc thu hút sự chú ý của họ. Việc này vô hình trung làm lệch lạc nhận thức của xã hội về năng lực và vị thế của người khuyết tật. Xem thêm tại: https://themighty.com/topic/disability/pity-porn-advertising-disability/.
[4] Mô hình y học về khuyết tật là cách tiếp cận xem khuyết tật chủ yếu xuất phát từ những khiếm khuyết, bệnh lý học sự suy giảm chức năng của cơ thể. Theo mô hình này, nguyên nhân của những khó khăn mà người khuyết tật gặp phải chủ yếu ở bản thân người đó, vì vậy cần sử dụng các biện pháp y tế như khám chữa bệnh, điều trị, phục hồi chức năng hoặc hỗ trợ bằng thiết bị y tế để cải thiện tình trạng. Xem thêm tại: https://now.aapmr.org/conceptual-models-of-disability/.
Nguyễn Thị Bích là cử nhân chuyên ngành Luật thương mại quốc tế tại Học viện Ngoại giao. Bích quan tâm đến pháp luật thương mại quốc tế, đặc biệt là khung pháp lý của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cùng các vấn đề về thương mại xanh và thương mại số. Email liên hệ: [email protected].
Phan Thanh Trường là cử nhân chuyên ngành Châu Á - Thái Bình Dương tại Học viện Ngoại giao. Trường quan tâm đến hệ thống chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại của Hàn Quốc. Email liên hệ: [email protected].
Bài viết này thuộc ấn bản đặc biệt với chủ đề “Phẩm giá và công bằng xã hội cho nhóm yếu thế”. Thông tin chi tiết về cuộc thi có thể xem tại đây.
Từ khoá: người khiếm thị người yếu thế quyền tự quyết cuộc thi viết