Thiên sứ nơi đâu?
“Xin dòng cứ chảy chẳng vì ai, xin nguồn đừng tắt để ru mãi vào đêm, đừng câm lặng như tôi, hai đứa cùng câm thì buồn lắm.”
Làm sao để tiểu thuyết chạm đến trái tim người đọc? – Mới, thật, hay? Hoặc giả có thể khơi lên một cái gì đó – lòng trắc ẩn, ý thức phản kháng, những tuồng giả trá của người đời, sự vô nghĩa của kiếp người, mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực?
Thật khó trả lời.
Đó là khi tôi đến với “Thiên sứ” (NXB Hội Nhà văn, tái bản, 1995) của Phạm Thị Hoài (PTH). Không dài, 174 trang, 20 chương. Không tốn nhiều thời gian, một buổi.
“Thiên sứ”, khi đến với người đời lần đầu vào năm 1988, là một đóng góp giá trị cho văn học Việt Nam sau Đổi mới (1986), nhất là trong bối cảnh chủ trương “cởi trói cho văn nghệ sĩ” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Nhưng theo PTH, cả bản 1988 và 1995 “đều bị kiểm duyệt một số từ và đoạn”. Bản điện tử lưu hành trên mạng Internet đầy đủ hơn; tuy vậy, có một số khác biệt về từ ngữ. Tạm bỏ qua những sai khác đó, trong bài viết này, tôi sử dụng bản 1995 cho các trích dẫn.
Trong “Thiên sứ”, PTH thể nghiệm những cách tân của lối viết sáng tạo, táo bạo, đặc quánh cá tánh, không thoả hiệp. Ngoài việc dùng tiếng nước ngoài không chú thích hay dàn trang cho những đoạn thơ tưởng dài vô tận của nhà văn Ph. thì những đoạn lặp lại trong tiểu thuyết là nổi bật nhất. Lối lặp lại của căn nhà 16 mét vuông, với 400 ô vuông nâu và một cánh cửa sổ chữ nhật – tạo cảm giác dồn nén, tù túng, bức bối; hay miêu tả tâm lý người anh thứ hai của Hoài – Hùng – người “luôn đứng giữa, ôn hoà, cái gì cũng biết một chút, toàn diện và hời hợt, vừa đủ thông minh để hài lòng với mình, vừa đủ tốt bụng để tránh hại kẻ khác…” – gợi lên cái yếu mềm, an phận, ngại va chạm. Bên cạnh những đoạn lặp, cách viết “người đàn ông mini một lời như dao chém đá” không khỏi nhắc nhớ về thủ pháp của Trần Dần – người “thủ lĩnh trong bóng tối” như tựa đề một bài viết của PTH về ông – một cá tánh văn chương hiếm hoi, đích thực, song, chịu nhiều lận đận, oan khiên. PTH cho rằng những người xung quanh Trần Dần chắc hẳn đã “xin được, có khi trộm được, ít nhất một vài con chữ từ cái lò luyện chữ của Trần Dần”. Tôi đồ rằng PTH cũng có cái may mắn đó.
Nhưng to lớn hơn, thời sự hơn, và được nhớ nhiều hơn, là ở tiếng vọng của một Hà Nội thời hậu chiến đầy những chấn thương tâm lý. Qua nhân vật tôi – cô bé Hoài, tác giả vẽ nên bức tranh nhốn nháo của thời cuộc, cảnh ngột ngạt của đời sống, và trên hết là những đứt gãy giữa lý tưởng và hiện thực. Trong mắt Hoài, có những người dường như không biết yêu, khó mà yêu, họ tìm kiếm ở tình yêu một ý nghĩa nào đó, họ muốn yêu thương mang hình hài một (hay nhiều) giá trị – vì vậy mà, họ cứ loay hoay, trăn trở. Yêu thương cao quá, họ tin mình không với tới được.
Hoài phân loại con người trên thế gian thành homo-A, những kẻ biết yêu, và homo-B, những kẻ không biết yêu. Cách phân loại rất khéo – “vừa tầm” một cô bé mới lớn. Từ đây, nếp sống của những thành viên trong gia đình Hoài, và giữa họ với những người khác (homo-A, homo-Z và những ai ở giữa), xoay quanh cái trục này.
Bé Hon – thiên sứ bất ngờ đến với gia đình Hoài như một món quà – chỉ biết một câu duy nhất: “Thơm nào!”. “Nhưng loài người còn nhiều việc cần kíp hơn những cái hôn”, PTH tỉnh táo giễu cợt. Mẹ: “Ra chỗ khác, thơm với tho gì, tôi không kịp mở mắt đây này!”. Bố: “Thôi, thôi đủ rồi, ướt nhoèn cả mặt người ta!”. Chỉ có Hoài và con mèo khoang là không bao giờ từ chối bé Hon. Tình yêu vô vị lợi, tình yêu thuần khiết quá đỗi lớn lao, quá đỗi tinh khiết mà người đời, có lẽ vì đã nhiễm bụi trần – với cơ hồ toan tính, nhọc nhằn, ưu phiền, nên không thể nâng niu, không thể trân trọng. Nó nặng quá, lớn quá, người quá. Vì những cái hôn ấy quá xa xỉ và “gia đình này không kham nổi”, sứ giả của tình yêu đã về Trời. Ngày bốc mộ bé Hon, “người ta hoả thiêu chiếc áo gỗ tinh khiết ấy, hoả thiêu luôn nụ cười”.
Khi thiên sứ rời đi, chuỗi bi kịch bắt đầu ập xuống gia đình này. Người mẹ chỉ biết nguyền rủa vì mất con, người bố trở lại với sáo rỗng nào “uy tín” nào “danh dự”, chị Hằng dấn sâu vào tình yêu hụt hơi – và vì tình yêu mà treo khát khao lên cây đa số phận, hai người anh cũng không khá hơn – kẻ vào tù, kẻ sống đời bằng phẳng, bằng lòng. Những kẻ khác cũng không khá hơn. Thày Hoàng vào tù với niềm tin “chỉ có hai thứ khuất phục nổi con người: tiền bạc và bạo lực. Tống một cục tiền là người ta câm họng”. Nhà thơ Ph. “bị bắt giữa một câu thơ về biển” và về sau mãi lặng lẽ. Quang lùn – kẻ “thách đố định mệnh ngoan cường” – từng bước leo cao trên những nấc thang quyền lực nhờ góp công trong nhiều vụ bắt bớ, sau đã hoàn tất lời nguyền độc địa “Đợi đấy, rồi các người tha hồ mọt xương đánh bài với thần chết”.
Họ là kẻ gieo gió hay nạn nhân của khát khao yêu thương, trò đùa số phận, cơn bão thời cuộc, lòng tham-sân-si, hay tội tổ tông?
Bây giờ hãy nói về ba ấn tượng của tôi về tác giả – người không ngại “Thơm nào!”.
PTH có khả năng khêu gợi cái cảm giác và tâm lý rất phụ nữ, rất đàn bà. Đây là Hoài: “Sinh thời, cô bé Hoài chỉ khao khát cảm thông, gượng nhẹ, một lời êm dịu mỗi sáng mai, một ánh nhìn chia sẻ, một nụ cười khích lệ, một bàn tay mơn man cho da thịt trôi vào giấc bình yên”. Đây là chị Hằng: “Giá có thể đổi sắc đẹp lấy một cái gì… Nhưng là cái gì? Chị chẳng biết mình muốn gì. Chị vừa hoài nghi những người biết rõ điều họ muốn, đồng thời lại ghen với họ”. Rất cần những quan tâm cụ thể, nhưng vẫn trói mình trong những khát khao và hoài nghi mơ hồ – chẳng phải đó là những gì rất-phụ-nữ sao?!
PTH đã qua suy nghĩ của cô bé Hoài về “Ruồi trâu” và “Thép đã tôi thế đây” – “hai cuốn sách quyết định bộ mặt tinh thần của cả một thế hệ” – để nói to, nói rõ, nói dõng dạc tuyên ngôn nghệ thuật (hay tuyên ngôn cuộc đời?) của mình. Làm sao ý nghĩa cuộc sống lại như thế, bằng phẳng, rõ ràng, như “che cả bản thân sự sống”. Hoài tuyên bố: “Tôi khước từ quan hệ họ hàng với những nhân vật xa lạ kia, khước từ những sản phẩm may hàng loạt”. Ngắn gọn, bé Hoài đã từ chối khoác lên mình bộ “đồng phục tinh thần” vừa không hợp thời, vừa không vừa vặn. Và khi Quang lùn “đã vui sướng chọn ngọn lửa chiến tranh để thắp sáng mình” cũng như coi “chiến tranh mang bộ mặt đàn ông tươi rói hào hùng” thì Hoài lại “lo âu, chỉ bởi chiến tranh thật ra mang bộ mặt đàn bà, xót xa, khắc khoải”.
PTH đã nói thẳng, nói trúng cái lố bịch và tàn nhẫn mà có lẽ thời nào cũng có. Thày Hoàng, trong tù, đã tuyên bố: “Tôi mến những đồng tiền hơn nhiều, chúng ngọ ngoậy vui mắt và biến hoá như xiếc” và không quên giảng một bài về cuộc đời, lần cuối, rằng sẽ không ai thoát khỏi quyền lực của đồng tiền. “Các người sẽ làm quen với nó, chấp nhận nó, và phục tùng nó vô điều kiện. Các người sẽ cảm thấy tự do thật sự dưới bảo trợ thường trực của nó, hê hê, đấy mới là tinh thần cốt tuỷ của thời đại. Thời đại ghi công tôi nên tôi mới ngồi đây nhá đùi gà và tợp rượu”.
Người ta có thể phê phán PTH vì thái độ bi quan, góc nhìn gay gắt, và đã mô tả trần trụi không thương xót cái bi kịch của tình yêu, gia đình, cùng những quan hệ xã hội khác. Nhưng một nhà văn không thể lúc nào cũng viết theo đơn đặt hàng. Nhà văn đích thực phải viết cho mình, cho trăn trở của mình, cho cái lẽ của người đời. Sẽ ra sao nếu cứ tìm cái hợp lý, cái trình tự, cái logic, cái thông điệp trong văn học? Nghèo, ngắn, ngộp – đó là hệ quả. Với các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, trong cái chua cay, giễu nhại, cười cợt là niềm thiết tha với người, với đời. Tương tự, ta không thể chỉ trích PTH, vì chính cô đã làm được điều tương tự. Chỉ khi vượt lên định kiến hay tâm lý gán cho văn nghệ một sứ mệnh, một nhiệm vụ, một thông điệp, thì văn nghệ mới sống được, nhất là sống vui, sống khỏe. Còn là khi cứ cố đóng khung văn nghệ trong chiếc hộp gỗ thì cũng là lúc nó nên ở dưới vài mét đất kia.
Đến nay, tôi không biết làm thế nào để một tiểu thuyết chạm đến trái tim người đọc. Là do tác giả tài tình, do tác phẩm thời sự, hay do người đọc tinh tế? Tôi chỉ biết, là con đẻ của người viết trăn trở và dũng cảm, tiểu thuyết hay như mũi tên bắn phá lồng ngực, xuyên qua tim, làm đứt mạng lưới sợi thần kinh, để rồi sau đó khâu vá trái tim với những ân cần tử tế.
Trở lại với PTH, có thể coi đây “là sự thức tỉnh của lương tâm trước những rạn vỡ của xã hội, của tâm linh con người mà chủ yếu là sự triệt tiêu thông cảm”, như ý kiến của nhà phê bình Thuỵ Khuê.
Sau rốt, tôi không thể thôi băn khoăn: Có không một thiên sứ trong đời mỗi người? Nếu có thì thiên sứ ấy ra sao? Có giống bé Hon luôn hào phóng “Thơm nào!” cùng nụ cười “tàng ẩn trong thời gian, chu du hành trình bất tận (…) và đôi khi cũng hiện ra nguyên vẹn dưới mắt người trần”?
Bạn có hài lòng về bài viết? Đóng góp cho VSF tại đây. Mọi đóng góp tài chính từ quý độc giả đều là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục xuất bản những nội dung chất lượng cho cộng đồng.
Làm sao để tiểu thuyết chạm đến trái tim người đọc? – Mới, thật, hay? Hoặc giả có thể khơi lên một cái gì đó – lòng trắc ẩn, ý thức phản kháng, những tuồng giả trá của người đời, sự vô nghĩa của kiếp người, mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực?
Thật khó trả lời.
Đó là khi tôi đến với “Thiên sứ” (NXB Hội Nhà văn, tái bản, 1995) của Phạm Thị Hoài (PTH). Không dài, 174 trang, 20 chương. Không tốn nhiều thời gian, một buổi.
“Thiên sứ”, khi đến với người đời lần đầu vào năm 1988, là một đóng góp giá trị cho văn học Việt Nam sau Đổi mới (1986), nhất là trong bối cảnh chủ trương “cởi trói cho văn nghệ sĩ” của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Nhưng theo PTH, cả bản 1988 và 1995 “đều bị kiểm duyệt một số từ và đoạn”. Bản điện tử lưu hành trên mạng Internet đầy đủ hơn; tuy vậy, có một số khác biệt về từ ngữ. Tạm bỏ qua những sai khác đó, trong bài viết này, tôi sử dụng bản 1995 cho các trích dẫn.
Trong “Thiên sứ”, PTH thể nghiệm những cách tân của lối viết sáng tạo, táo bạo, đặc quánh cá tánh, không thoả hiệp. Ngoài việc dùng tiếng nước ngoài không chú thích hay dàn trang cho những đoạn thơ tưởng dài vô tận của nhà văn Ph. thì những đoạn lặp lại trong tiểu thuyết là nổi bật nhất. Lối lặp lại của căn nhà 16 mét vuông, với 400 ô vuông nâu và một cánh cửa sổ chữ nhật – tạo cảm giác dồn nén, tù túng, bức bối; hay miêu tả tâm lý người anh thứ hai của Hoài – Hùng – người “luôn đứng giữa, ôn hoà, cái gì cũng biết một chút, toàn diện và hời hợt, vừa đủ thông minh để hài lòng với mình, vừa đủ tốt bụng để tránh hại kẻ khác…” – gợi lên cái yếu mềm, an phận, ngại va chạm. Bên cạnh những đoạn lặp, cách viết “người đàn ông mini một lời như dao chém đá” không khỏi nhắc nhớ về thủ pháp của Trần Dần – người “thủ lĩnh trong bóng tối” như tựa đề một bài viết của PTH về ông – một cá tánh văn chương hiếm hoi, đích thực, song, chịu nhiều lận đận, oan khiên. PTH cho rằng những người xung quanh Trần Dần chắc hẳn đã “xin được, có khi trộm được, ít nhất một vài con chữ từ cái lò luyện chữ của Trần Dần”. Tôi đồ rằng PTH cũng có cái may mắn đó.
Nhưng to lớn hơn, thời sự hơn, và được nhớ nhiều hơn, là ở tiếng vọng của một Hà Nội thời hậu chiến đầy những chấn thương tâm lý. Qua nhân vật tôi – cô bé Hoài, tác giả vẽ nên bức tranh nhốn nháo của thời cuộc, cảnh ngột ngạt của đời sống, và trên hết là những đứt gãy giữa lý tưởng và hiện thực. Trong mắt Hoài, có những người dường như không biết yêu, khó mà yêu, họ tìm kiếm ở tình yêu một ý nghĩa nào đó, họ muốn yêu thương mang hình hài một (hay nhiều) giá trị – vì vậy mà, họ cứ loay hoay, trăn trở. Yêu thương cao quá, họ tin mình không với tới được.
Hoài phân loại con người trên thế gian thành homo-A, những kẻ biết yêu, và homo-B, những kẻ không biết yêu. Cách phân loại rất khéo – “vừa tầm” một cô bé mới lớn. Từ đây, nếp sống của những thành viên trong gia đình Hoài, và giữa họ với những người khác (homo-A, homo-Z và những ai ở giữa), xoay quanh cái trục này.
Bé Hon – thiên sứ bất ngờ đến với gia đình Hoài như một món quà – chỉ biết một câu duy nhất: “Thơm nào!”. “Nhưng loài người còn nhiều việc cần kíp hơn những cái hôn”, PTH tỉnh táo giễu cợt. Mẹ: “Ra chỗ khác, thơm với tho gì, tôi không kịp mở mắt đây này!”. Bố: “Thôi, thôi đủ rồi, ướt nhoèn cả mặt người ta!”. Chỉ có Hoài và con mèo khoang là không bao giờ từ chối bé Hon. Tình yêu vô vị lợi, tình yêu thuần khiết quá đỗi lớn lao, quá đỗi tinh khiết mà người đời, có lẽ vì đã nhiễm bụi trần – với cơ hồ toan tính, nhọc nhằn, ưu phiền, nên không thể nâng niu, không thể trân trọng. Nó nặng quá, lớn quá, người quá. Vì những cái hôn ấy quá xa xỉ và “gia đình này không kham nổi”, sứ giả của tình yêu đã về Trời. Ngày bốc mộ bé Hon, “người ta hoả thiêu chiếc áo gỗ tinh khiết ấy, hoả thiêu luôn nụ cười”.
Khi thiên sứ rời đi, chuỗi bi kịch bắt đầu ập xuống gia đình này. Người mẹ chỉ biết nguyền rủa vì mất con, người bố trở lại với sáo rỗng nào “uy tín” nào “danh dự”, chị Hằng dấn sâu vào tình yêu hụt hơi – và vì tình yêu mà treo khát khao lên cây đa số phận, hai người anh cũng không khá hơn – kẻ vào tù, kẻ sống đời bằng phẳng, bằng lòng. Những kẻ khác cũng không khá hơn. Thày Hoàng vào tù với niềm tin “chỉ có hai thứ khuất phục nổi con người: tiền bạc và bạo lực. Tống một cục tiền là người ta câm họng”. Nhà thơ Ph. “bị bắt giữa một câu thơ về biển” và về sau mãi lặng lẽ. Quang lùn – kẻ “thách đố định mệnh ngoan cường” – từng bước leo cao trên những nấc thang quyền lực nhờ góp công trong nhiều vụ bắt bớ, sau đã hoàn tất lời nguyền độc địa “Đợi đấy, rồi các người tha hồ mọt xương đánh bài với thần chết”.
Họ là kẻ gieo gió hay nạn nhân của khát khao yêu thương, trò đùa số phận, cơn bão thời cuộc, lòng tham-sân-si, hay tội tổ tông?
Bây giờ hãy nói về ba ấn tượng của tôi về tác giả – người không ngại “Thơm nào!”.
PTH có khả năng khêu gợi cái cảm giác và tâm lý rất phụ nữ, rất đàn bà. Đây là Hoài: “Sinh thời, cô bé Hoài chỉ khao khát cảm thông, gượng nhẹ, một lời êm dịu mỗi sáng mai, một ánh nhìn chia sẻ, một nụ cười khích lệ, một bàn tay mơn man cho da thịt trôi vào giấc bình yên”. Đây là chị Hằng: “Giá có thể đổi sắc đẹp lấy một cái gì… Nhưng là cái gì? Chị chẳng biết mình muốn gì. Chị vừa hoài nghi những người biết rõ điều họ muốn, đồng thời lại ghen với họ”. Rất cần những quan tâm cụ thể, nhưng vẫn trói mình trong những khát khao và hoài nghi mơ hồ – chẳng phải đó là những gì rất-phụ-nữ sao?!
PTH đã qua suy nghĩ của cô bé Hoài về “Ruồi trâu” và “Thép đã tôi thế đây” – “hai cuốn sách quyết định bộ mặt tinh thần của cả một thế hệ” – để nói to, nói rõ, nói dõng dạc tuyên ngôn nghệ thuật (hay tuyên ngôn cuộc đời?) của mình. Làm sao ý nghĩa cuộc sống lại như thế, bằng phẳng, rõ ràng, như “che cả bản thân sự sống”. Hoài tuyên bố: “Tôi khước từ quan hệ họ hàng với những nhân vật xa lạ kia, khước từ những sản phẩm may hàng loạt”. Ngắn gọn, bé Hoài đã từ chối khoác lên mình bộ “đồng phục tinh thần” vừa không hợp thời, vừa không vừa vặn. Và khi Quang lùn “đã vui sướng chọn ngọn lửa chiến tranh để thắp sáng mình” cũng như coi “chiến tranh mang bộ mặt đàn ông tươi rói hào hùng” thì Hoài lại “lo âu, chỉ bởi chiến tranh thật ra mang bộ mặt đàn bà, xót xa, khắc khoải”.
PTH đã nói thẳng, nói trúng cái lố bịch và tàn nhẫn mà có lẽ thời nào cũng có. Thày Hoàng, trong tù, đã tuyên bố: “Tôi mến những đồng tiền hơn nhiều, chúng ngọ ngoậy vui mắt và biến hoá như xiếc” và không quên giảng một bài về cuộc đời, lần cuối, rằng sẽ không ai thoát khỏi quyền lực của đồng tiền. “Các người sẽ làm quen với nó, chấp nhận nó, và phục tùng nó vô điều kiện. Các người sẽ cảm thấy tự do thật sự dưới bảo trợ thường trực của nó, hê hê, đấy mới là tinh thần cốt tuỷ của thời đại. Thời đại ghi công tôi nên tôi mới ngồi đây nhá đùi gà và tợp rượu”.
Người ta có thể phê phán PTH vì thái độ bi quan, góc nhìn gay gắt, và đã mô tả trần trụi không thương xót cái bi kịch của tình yêu, gia đình, cùng những quan hệ xã hội khác. Nhưng một nhà văn không thể lúc nào cũng viết theo đơn đặt hàng. Nhà văn đích thực phải viết cho mình, cho trăn trở của mình, cho cái lẽ của người đời. Sẽ ra sao nếu cứ tìm cái hợp lý, cái trình tự, cái logic, cái thông điệp trong văn học? Nghèo, ngắn, ngộp – đó là hệ quả. Với các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, trong cái chua cay, giễu nhại, cười cợt là niềm thiết tha với người, với đời. Tương tự, ta không thể chỉ trích PTH, vì chính cô đã làm được điều tương tự. Chỉ khi vượt lên định kiến hay tâm lý gán cho văn nghệ một sứ mệnh, một nhiệm vụ, một thông điệp, thì văn nghệ mới sống được, nhất là sống vui, sống khỏe. Còn là khi cứ cố đóng khung văn nghệ trong chiếc hộp gỗ thì cũng là lúc nó nên ở dưới vài mét đất kia.
Đến nay, tôi không biết làm thế nào để một tiểu thuyết chạm đến trái tim người đọc. Là do tác giả tài tình, do tác phẩm thời sự, hay do người đọc tinh tế? Tôi chỉ biết, là con đẻ của người viết trăn trở và dũng cảm, tiểu thuyết hay như mũi tên bắn phá lồng ngực, xuyên qua tim, làm đứt mạng lưới sợi thần kinh, để rồi sau đó khâu vá trái tim với những ân cần tử tế.
Trở lại với PTH, có thể coi đây “là sự thức tỉnh của lương tâm trước những rạn vỡ của xã hội, của tâm linh con người mà chủ yếu là sự triệt tiêu thông cảm”, như ý kiến của nhà phê bình Thuỵ Khuê.
Sau rốt, tôi không thể thôi băn khoăn: Có không một thiên sứ trong đời mỗi người? Nếu có thì thiên sứ ấy ra sao? Có giống bé Hon luôn hào phóng “Thơm nào!” cùng nụ cười “tàng ẩn trong thời gian, chu du hành trình bất tận (…) và đôi khi cũng hiện ra nguyên vẹn dưới mắt người trần”?
Bạn có hài lòng về bài viết? Đóng góp cho VSF tại đây. Mọi đóng góp tài chính từ quý độc giả đều là nguồn động lực to lớn để chúng tôi tiếp tục xuất bản những nội dung chất lượng cho cộng đồng.
Từ khoá: Thiên sứ Phạm Thị Hoài review sách