Tiền sử của rác AI
“Rác AI” tồn đọng suốt nhiều thập kỷ qua cho thấy việc tự động hóa văn chương chỉ khiến con người đánh mất tính nhân văn. Việc buông thả và phó mặc công việc viết lách cho máy móc liệu có phải là tương lai mà chúng ta mong muốn?
Nguồn: “The Prehistory of A.I. Slop”, The New Yorker, May 18, 2026.
Người dịch: Phan Võ Minh Nhân - Lê Ngô Huyền Trang
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Trước Chat GPT, đã từng có Plot Robot, Auto-Beatnik, và cả một thế kỷ với đủ loại kế hoạch nhằm tự động hóa việc sáng tác.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi ngành tính toán và ngôn ngữ giao nhau, có được một cái máy có khả năng đọc là một lợi thế khi bạn đang làm nội gián. Khả năng học được cách viết của cái máy đó càng là một điểm cộng.
Năm 1962, một lập trình viên ở Librascope, một nhà thầu quốc phòng có trụ sở tại California, đã tuyên bố rằng “một máy tính có thể được lập trình để viết các câu có nghĩa và hợp lý bằng tiếng Anh chuẩn.” Tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Tự động hóa của Librascope tại Glendale, ông đã bắt đầu thí nghiệm bằng cách nạp vào máy tính của mình – chiếc LGP-30 chạy bằng bóng đèn chân không – một kho từ vựng gồm 3.500 từ và một danh mục gồm 128 mẫu câu, sau đó hướng dẫn nó làm tương tự những gì con người thường làm vào thập niên 1990 khi gắn Thơ Nam Châm (Magnetic Poetry) lên cửa tủ lạnh. Và nhìn mà xem! “Bông cải xanh thì thường mù quáng,” chiếc LGP-30 gõ ra trên máy đánh chữ của nó, và “Chủ nghĩa cộng sản thì nhiều phần gốm sứ hơn là vàng trắng.” Người kĩ sư quyết định sắp xếp lại văn bản do máy tạo ra này thành thơ tự do:
Was Milo mewling thrilling radishes?
So, our anchovies are sad but green.
Tạm dịch:
Milo có đang kêu rên về những củ cải thú vị?
Vậy nên, những con cá cơm tuy buồn bã nhưng vẫn xanh tươi.
Ông đặt tên chương trình này là Auto-Beatnik, một cách mưu mẹo khi mượn tên Kerouac, Ginsberg và Burroughs để che đậy cho mớ văn chương rác rưởi này. Chiêu này đôi khi hiệu quả; tờ Daily Mirror của London mô tả thơ ca của Auto-Beatnik “hay hơn phần lớn những thứ được xuất bản trên các tạp chí tiên phong (avant garde).”
Sự ra mắt trên văn đàn của Auto-Beatnik, một cỗ máy có thể sáng tác 5 nghìn bài thơ trong khoảng một giờ, đã thu hút sự chú ý của các tạp chí như Time, Life và The Times. Trái ngược với sự đón nhận mang tính phê bình thường thấy dành cho một nghệ sĩ mới nổi, thơ của cây bút mới này thường được chú ý nhưng hiếm khi được ái mộ, bất chấp sự tán thưởng đầy mỉa mai của tờ Daily Mirror. Năm 1963, một câu chuyện trên tờ Observer về thơ ca tự động đã đi kèm với một bức tranh biếm hoạ: một người đàn ông nhét mẩu giấy ghi chữ “art” (nghệ thuật) vào một cái máy tính, và ở đầu kia cỗ máy trả ra một mẩu giấy ghi chữ “tra”. Tôi đoán phần “sh” có ngầm ý: đưa vào nghệ thuật, đưa ra rác rưởi [ND: chữ “tra” ghép với “sh” ra chữ “trash”, nghĩa là “rác rưởi” trong tiếng Anh].
Gần đây, kiểu rác này đang được biết đến với tên AI slop (tạm dịch là “rác mạng AI”) - “slop” được từ điển Merriam-Webster bình chọn là Từ của Năm 2025 - và nó xuất hiện khắp mọi nơi, làm đình trệ công việc, cản trở giao thông và tạo ra một mớ hổ lốn tồi tệ. Việc này gợi lại sự kiện năm 1919, khi một bồn chứa gần hai triệu rưỡi gallon đường mật bị vỡ ở Boston, và một làn sóng siro đáng sợ cao 50 foot (khoảng 15 m), lao đi với vận tốc 35 dặm một giờ (thực sự nhanh hơn bạn nghĩ đấy) đã nhấn chìm thành phố. Việc dọn dẹp Cơn Đại Hồng Thủy Đường Mật đã tốn nhiều tuần và dù nhiều tháng đã qua, bất cứ nơi nào mật đường vương lại, kể cả ở các sân ga tàu điện ngầm, đều còn cảm giác nhớp nháp. Thậm chí nhiều năm sau, vào những ngày nắng nóng, khu North End vẫn có mùi giống như một ngôi nhà bánh gừng.
Văn bản tạo ra bởi máy tính, dẫu không có mùi ngọt ngào như vậy, nhưng lại mang chút gì đó của sự bết dính nghẹt thở của đường mật. Có một cách hình dung về mạng internet là xem nó như một nỗ lực nhằm lưu trữ gần như mọi thứ từng được viết ra bởi bất kỳ ai từng sống trên đời. Gần đây, ngày càng nhiều bài viết mới trên mạng được tạo ra bởi các bot (tài khoản tự động), giữa cơn Đại Hồng Thủy Rác AI (great A.I.-Slop Flood.) Trước kỷ nguyên ChatGPT, hơn 98% các bài viết xuất bản bằng tiếng Anh trên Internet do con người viết. Theo ghi nhận của công ty tiếp thị kỹ thuật số Graphite, tính đến mùa thu 2024, máy móc đã viết khoảng nửa số bài báo như vậy; nhưng thay vì tỏ ra phẫn nộ với những kẻ soán ngôi này, công ty lại ủng hộ mọi người sử dụng AI để hỗ trợ vận hành các chiến lược quảng cáo. Và tại sao lại không? Trong một thử nghiệm giấu mặt (blind test), người ta nhận thấy các quảng cáo do AI tạo ra có “chất lượng cao hơn” so với quảng cáo do con người làm.
Và đó là còn chưa kể đến mạng xã hội, email, hay toàn bộ những rác do robot viết ra ùa đến trước mặt bạn qua tin nhắn văn bản, tin nhắn thoại, hay các hộp tin nhắn hỗ trợ khách hàng kiểu tự bật lên (pop-up). Youtube tràn ngập rác. Reddit cũng kẹt kín chúng. Hầu hết Facebook chẳng có gì ngoài rác. Nhà phê bình văn học Matthew Kirschenbaum cảnh báo một “tận thế chữ nghĩa” (textpocalypse), điều sẽ biến từng từ bạn đang đọc ngay lúc này - từ này, và cả từ này nữa - trở thành di vật mà con cháu bạn đóng khung treo tường, tựa như tấm ảnh kiểu cổ daguerreotype [ND: kỹ thuật chụp ảnh được phổ biến sớm nhất], hay một mẫu vải thêu treo tường. “Kirschenbaum viết: “Tựa như những nét bút đầy tự hào của một người viết thư pháp, một tài liệu trực tuyến do con người tạo ra có thể trở thành một món hàng hiếm cần được giám tuyển, bảo vệ, và lưu giữ, liệu tận thế chữ nghĩa có thể bị ngăn chặn?” Forbes hứa hẹn một cách đầy cẩu thả vào đầu năm nay: “Hãy an tâm, năm 2026 sẽ là khởi đầu của cuộc thanh lọc rác AI.” Hầu như chẳng trấn an được chút gì. Những con cá cơm của tôi vẫn buồn thiu [ND: tác giả nhắc lại hình ảnh những con cá cơm do máy tạo ra ở phần trước để mỉa mai thực tại đầy rác AI hiện nay].
Ý tưởng về văn xuôi hay thơ ca được tạo ra bằng máy móc không hề mới. Các cẩm nang viết thư từ thế kỷ 18 đã cung cấp các mẫu sẵn để điền vào, bởi vì rất nhiều loại thư từ phải tuân theo các khuôn mẫu nhất định như thư chia buồn hay thư giới thiệu. Nỗi lo sợ về việc máy móc thay thế con người trong vai trò cầm bút, và thay thế những áng văn bằng mớ chữ nghĩa tồi tệ, cũng có tuổi đời lâu hơn bạn nghĩ. Khi những nhà phê bình giữa thế kỷ 19 bị choáng ngợp trước cơn lũ của các ấn phẩm in ấn rẻ tiền thời bấy giờ, nhất là các ấn phẩm định kỳ và tiểu thuyết, họ đã tưởng tượng ra một “Cỗ máy Tạp chí Đời mới” có thể nhả ra hàng loạt cuốn tiểu thuyết giật gân rẻ tiền, và một “Máy Làm-Sách,” một hậu duệ trong mảng văn chương của Máy Phân tích (Analytical Engine) do Charles Babbage phát minh.
Các công cụ tạo cốt truyện ngẫu nhiên thậm chí còn cổ xưa hơn: xét cho cùng, đó chính là bản chất của các lá bài tarot. (Bạn có thể đọc thêm về một số các tiền đề này trong cuốn sách có văn phong nhẹ nhàng của Dennis Yi Tenen xuất bản năm 2024 với tựa đề: “Literary Theory for Robots: How Computers Learned to Write” [Lý thuyết văn học cho robot: Cách máy tính học viết]. Bất chấp tiêu đề của nó, cuốn sách không hẳn là công trình nghiên cứu về lý thuyết văn học, mà thay vào đó, nó “kiên nhẫn lắp ráp chatbot hiện đại từ các mảnh ghép tìm thấy trên bàn làm việc của lịch sử.”) Khi công nghiệp hóa phát triển, nhà máy thay thế cho vòng quay may mắn để trở thành phép ẩn dụ cho cách mà mọi sự diễn ra trên thế giới. Một cẩm nang viết lách năm 1912 có tên “The Fiction Factory” (Nhà máy hư cấu) đã đưa ra lời khuyên: “Một nhà văn chẳng tốt hơn hay tệ hơn bất kỳ ai làm công việc kinh doanh. Hắn chính là một nhà sản xuất. Sau khi thu thập nguyên liệu thô, hắn đưa chúng vào cối xay của trí tưởng tượng.” Điều này càng tăng tốc hơn nữa với “nhà máy” mang tên Hollywood. Trong cuốn cẩm nang năm 1919 có tựa đề “Ten Million Photoplay Plots” (Mười triệu cốt truyện điện ảnh), một kẻ lừa đảo tên Wycliffe A. Hill nói với những người muốn trở thành nhà biên kịch rằng có tổng cộng 37 tuyến truyện khả thi có thể kết hợp với một số lượng nhất định các nhân vật, tình huống và tuyến truyện phụ để tạo ra chính xác 10.494.360 kịch bản. Sau khi từ “robot” được khai sinh vào năm 1920 trong vở kịch nổi tiếng thế giới của Czech với tên “R.U.R.,” cùng với sự say mê của văn hóa đại chúng đối với những người máy cơ khí, Hill xuất bản tiếp một cẩm nang nữa vào năm 1931 kèm với thứ mà ông gọi là “Plot Robot” (Robot cốt truyện). Một quảng cáo cho cuốn này trên tờ Modern Mechanics hứa hẹn:
Trước đây, robot chỉ là các công cụ máy móc có thể thực hiện một vài trò biểu diễn dưới sự hướng dẫn của con người, nhưng giờ đây, một robot đã xuất hiện với khả năng suy nghĩ, sở hữu một kiểu linh hồn riêng, có trí tưởng tượng sáng tạo, và các phẩm chất cần thiết để viết một truyện ngắn rập khuôn thời hiện đại… Ngay bây giờ, nếu bạn muốn trở thành một tác giả thành công, chỉ cần sở hữu một con robot và để nó làm việc.
Trên thực tế, chẳng có con robot nào cả. Nếu mua quyển sách, bạn sẽ phát hiện ra rằng “Robot cốt truyện” (Plot Robot) thực chất chỉ là một cái đĩa quay số bằng bìa cứng. Chiêu trò bịp bợm này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Thời nay, bạn có thể mua bộ “Xúc xắc viết lách” (Writing Dice) để giúp bạn sáng tác tiểu thuyết: Tận chín viên xúc xắc! Với lời quảng cáo: “Với hàng ngàn tổ hợp khác nhau, bạn sẽ không bao giờ phải sợ trang giấy trắng nữa.”
Việc robot thực sự tự viết lách đã bắt đầu từ năm 1953, khi nhà toán học Christopher Strachey - cháu trai của nhà văn Lytton Strachey thuộc nhóm văn học Bloomsbury đã viết ra một chương trình có thể tạo ra những bức thư tình như thế này:
Honey Dear
My sympathetic affection beautifully attracts your affectionate enthusiasm. You are my loving adoration: my breathless adoration. . . .
Yours wistfully
M. U. C.
Tạm dịch:
Em yêu dấu
Tình cảm đầy thấu hiểu của anh thu hút một cách tuyệt mỹ sự nhiệt thành trìu mến của em. Em là niềm tôn thờ yêu dấu của anh: niềm tôn thờ đến nghẹt thở của anh…
Người luôn hoài nhớ em
M. U. C
Hãy hình dung nó như một trò chơi điền từ kiểu Mad Libs trước cả khi Mad Libs ra đời. Strachey đã lập trình cho M.U.C. (Máy tính của Đại học Manchester) điền vào chỗ trống trong các câu mẫu bằng cách chọn ngẫu nhiên từ một danh sách các từ vựng được phân loại theo từ loại: “- (tính từ) - (danh từ) của tôi - (phó từ) - (động từ) - (tính từ) - (danh từ) của bạn”. Sau đó, ông mang những bức thư này đi dán quanh khuôn viên trường. Một trong những động cơ để Strachey tạo ra chàng “Cyrano điện tử” [ND: Cyrano chỉ nhân vật Cyrano de Bergerac trong một vở kịch cùng tên, một người cực kì giỏi thơ ca nhưng tự ti vì chiếc mũi quá khổ của mình nên đã đồng ý viết thư hộ cho đối thủ] là nhằm chế giễu những phóng viên nhẹ dạ cả tin từng tung hô máy tính như “những cỗ máy biết tư duy”. Ông nhấn mạnh rằng chương trình của mình “đơn giản tới mức trẻ con cũng làm được”. Vì Strachey được cho là người đồng tính, các học giả sau này nhận định những bức thư này mang hàm ý chế nhạo những mối tình dị tính. Hoặc, theo như tôi nghĩ, là chế nhạo bất kỳ mối tình nào. Không thể phủ nhận rằng, thư tình thường là một mớ sướt mướt ngớ ngẩn.
Để những bức thư của Strachey không có vẻ lỗi thời so với những thứ bạn vẫn bắt gặp ngày nay, tôi xin đề cập rằng, trong khi tôi đang viết bài tiểu luận này, một người bạn là nhà văn đã nhắn tin cho tôi một email do AI viết mà cô ấy vừa nhận được, email này mạo danh tiểu thuyết gia người Anh: “Cuối tuần vui vẻ, Elise! Cú hích máy ủi nhanh (không spam!) tia sáng trẻ em xe tải đồ chơi của bạn + cuộc chạy marathon 28 cuốn sách truyền cảm hứng; tuần này hãy trao đổi những bí mật hồi hộp 15 phút nhé? Khi nào công việc sẽ trả lời hôm nay? Thân mến, Alice Feeney.” HONEY – DEW [ND: Nhại lại từ cụm Honey Dear ở bức thư năm 1953 thành Dear Honey Dew - quả dưa lưới] THÂN MẾN, EM LÀ NHỮNG SỢI RÂU MÈO ĐÁNG YÊU NHẤT, LÀ BẠCH NGUYỆT QUANG TUYỆT DIỆU CỦA ĐỜI ANH.
Công trình của Strachey là điểm khởi đầu cho một tuyển tập đầy hấp dẫn mang tên “Output: An Anthology of Computer-Generated Text, 1953-2023” (Đầu ra: Tuyển tập Văn bản do Máy tính Sáng tác, 1953-2023), do Lillian-Yvonne Bertram và Nick Montfort biên tập. Tuy nhiên họ lại không đề cập rằng năm 1953 cũng là năm Roald Dahl xuất bản truyện ngắn “The Great Automatic Grammatizator” (Cỗ máy Ngữ pháp Tự động Vĩ đại). Trong tác phẩm này, một kỹ sư tên là Adolph Knipe đã thuyết phục sếp của mình là ông Bohlen, rằng họ có thể hốt bạc nhờ việc sử dụng máy tính để viết ra những câu chuyện rẻ tiền, rác rưởi:
“Ngày nay, thưa ông Bohlen, hàng thủ công không còn lấy một tia hy vọng nào đâu. Nó không thể nào cạnh tranh nổi với phương thức sản xuất hàng loạt, nhất là ở đất nước này - ông thừa biết điều đó. Thảm…ghế…giày dép…gạch ngói…đồ gốm sứ…hay bất cứ thứ gì ông muốn kể ra - giờ đây tất cả chúng đều được làm bằng máy móc cả. Chất lượng có thể kém hơn, nhưng điều đó chẳng hề hấn gì. Chi phí sản xuất mới là thứ quan trọng hơn. Và những câu chuyện - chà - chúng chỉ là những mặt hàng khác thôi, giống như thảm hay ghế vậy, chẳng ai bận tâm ông sản xuất chúng ra như thế nào, miễn là ông giao được hàng. Chúng ta sẽ bán sỉ chúng, ông Bohlen ạ! Chúng ta sẽ phá giá, với mức giá thấp hơn bất kì nhà văn nào trong nước! Chúng ta sẽ thâu tóm toàn bộ thị trường!”
Knipe chế tạo ra cỗ máy, và kết quả chẳng khác nào họ đang in tiền vậy. Dahl kết luận:
Năm ngoái - năm đầu tiên cỗ máy đi vào hoạt động trọn vẹn - người ta ước tính rằng ít nhất một nửa số tiểu thuyết và truyện ngắn xuất bản tiếng Anh đã được Adolph Knife tạo ra nhờ “Cỗ máy Ngữ pháp Tự động Vĩ đại”.
Điều này có làm bạn ngạc nhiên không?
Tôi e là không.
Và điều tồi tệ hơn vẫn còn phía trước.
Và rồi nó cũng ập đến.
Giống như chính trí tuệ nhân tạo (AI), rác AI này là một sản phẩm của Chiến tranh Lạnh. Mỹ từng tìm cách ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản, chiếc áo phông với dòng chữ gắt gỏng đầy cay đắng chỉ có thể ghi như vậy, để rồi tất cả những gì chúng ta nhận lại là sự lụi tàn của sách vở, hiệu sách, báo chí và các tác giả.
Những thí nghiệm như của Strachey là một phần trong sự bùng nổ của các nghiên cứu thời hậu chiến về mối quan hệ giữa toán học và ngôn ngữ, nó biểu hiện một sự say mê rộng lớn đối với việc tự động hóa tri thức, đây là xu hướng đã vượt qua ranh giới giữa các ngành học và lan tỏa khắp các nền văn hóa. Trong số vô vàn những ẩn số của Chiến tranh Lạnh, có câu hỏi về việc thế giới này rốt cuộc vận hành theo một trật tự hay chỉ là ngẫu nhiên. Liệu động thái tiếp theo của Liên Xô có thể được dự đoán trước hay không? Khái niệm “trí tuệ nhân tạo” (artificial intelligence) đã nảy sinh từ chính từ “intelligence” (vốn mang nghĩa là hoạt động tình báo), khi máy tính bắt đầu được sử dụng để xử lý tín hiệu - cụ thể là tìm kiếm các quy luật trong các bản tin vô tuyến và văn bản in ấn như báo chí. Việc dạy cho một cỗ máy biết đọc trở nên vô cùng hữu ích khi bạn đang làm gián điệp theo dõi một kẻ thù ở thế kỷ 20. Việc cỗ máy đó có thể học cả cách viết lách là một phần thưởng cộng thêm, thứ đã góp phần tạo nên một cuộc cách mạng trong ngôn ngữ học lẫn thi pháp học.
Vào những năm 1950, các lĩnh vực khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo - cả hai thuật ngữ này đều ra đời trong thập kỷ đó - ngày càng chú trọng đến việc mô phỏng trí thông minh con người và dịch thuật ngôn ngữ của con người (hay ngôn ngữ tự nhiên). Các nhà ngôn ngữ học cũng bắt đầu biến ngôn ngữ thành các mã (codes). Trong quyển Syntactic Structures (Cấu trúc Cú pháp) xuất bản năm 1957, cùng năm mà bìa một tạp chí viễn tưởng in hình một con robot đang đọc sách, Noam Chomsky đã minh họa sự tách biệt giữa cú pháp và ý nghĩa bằng câu “Những ý tưởng xanh lá không màu ngủ một cách giận dữ” (Colorless green ideas sleep furiously). Đây chính là một kiểu câu được viết bởi cỗ máy Auto Beatnik, hoặc công bằng mà nói, nó được viết bởi một nhà thơ thuộc thế hệ Beatnik [VSF: thế hệ Beatnik xuất hiện như một phản ứng chống lại sự rập khuôn, lối sống công nghiệp hoá và các giá trị đạo đức cứng nhắc của nước Mỹ thập niên 50] bằng xương bằng thịt. Khoảng năm 1959, William S. Burroughs bắt đầu thử nghiệm viết thơ bằng cách cắt rời các đoạn văn xuôi rồi dán chúng lại với nhau trên một trang giấy, chẳng hạn như một bài thơ được ghép từ hai bài báo về 1) vi-rút bại liệt và 2) một buổi biểu diễn tại Nhà hát Met:
The girls eat morning
dying peoples to a white bone monkey
in the Winter sun
touching tree of the house. $$$$
Tạm dịch:
Các cô gái ăn buổi sáng
người chết bởi một con khỉ xương trắng
trong nắng mùa Đông
chạm đến cây của ngôi nhà. $$$$
Cùng thời điểm và cũng sử dụng phương pháp khá tương đồng, nhà toán học người Đức Theo Lutz tạo ra thơ trên máy tính Zuse Z22 bằng cách viết một chương trình để cắt dán các từ ngẫu nhiên từ cuốn “The Castle” (Lâu đài) của Franz Kafka:
Every stranger is far. A day is late.
Every house is dark. An eye is deep.
Tạm dịch:
Mọi tha nhân xa. Một ngày trở muộn.
Mọi nhà trở tối. Một con mắt sâu.
Thơ do Zuse Z22 sáng tác đã được điểm luận trên tờ T.L.S (The Times Literary Supplement), và tại đây, nó đã khơi dậy ý kiến rằng việc loại bỏ ý nghĩa (meaning) hồ như chẳng có gì đáng ấn tượng: “Điều thực sự quan trọng là loại bỏ cả giác quan/cảm quan (sense)”.
Đến đầu những năm 1960, đã có đủ nhiều những việc thế này diễn ra và chúng đã tạo ra sự hoảng loạn lẫn sự hứng thú dễ hiểu. Một tiêu đề bài viết trên tạp chí Life năm 1961 cảnh báo: “MÁY MÓC ĐANG CHIẾM LĨNH: MÁY VI TÍNH HIỆN NAY LÀM VƯỢT TRỘI HƠN CON NGƯỜI - VÀ CÓ THỂ SỚM SUY NGHĨ VƯỢT TRỘI HƠN.” Thứ được quảng cáo là “cuốn sách đầu tiên của những vần thơ được viết bởi một máy vi tính” đã được phát hành ở Montreal năm 1964, và được ghi nhận “tác giả, một máy vi tính tên LGP-30 đã tạo ra các câu tự động trong tuyển tập này.” Các câu nói trên bao gồm câu sau: “La pomme ajuste le monde, mais la pluie s’embellit pour les raisins” (Trái táo nhào nặn nên thế giới, nhưng cơn mưa lại tăng thêm hương vị cho những trái nho). Đó có phải là nghệ thuật không? Không hề, nhưng nó thú vị.
Năm 1962, nhà triết học kiêm ký hiệu học người Đức Max Bense, người từng hướng dẫn công trình nghiên cứu của Lutz, đã nỗ lực phân biệt giữa thơ ca tự nhiên và thơ ca nhân tạo. Bense viết rằng, thơ ca tự nhiên “có một điều kiện tiên quyết là…một ý thức thi ca cá nhân”, trong khi đó, thơ ca nhân tạo hoàn toàn “không tồn tại ý thức thi ca nào gắn liền với những trải nghiệm phiêu lưu, cảm xúc, ký ức, suy nghĩ, ý niệm tưởng tượng, v.v., tức là không có một thế giới nào tồn tại từ trước, và trong đó việc viết lách không còn là một sự tiếp nối mang tính bản thể luận, nơi khía cạnh thế giới ngôn từ có thể liên kết với một bản ngã”. Một bài thơ nhân tạo là một bài thơ không có nhà thơ.
Không phải ngẫu nhiên mà Bense viết về thơ ca nhân tạo chứ không phải là văn xuôi nhân tạo. Trong cuốn sách của Bertram và Montfort, phần về thơ ca cũng là phần dài nhất. Văn bản do máy tạo ra có thể gây hoang mang: ngẫu nhiên và đầy bất ngờ. Có lẽ máy tính là công cụ mới để thấu hiểu thơ ca. “Người ta sẽ nói rằng dùng máy tính để làm thơ giống như dùng một chiếc cần cẩu thay cho cây bút để viết thư vậy”, triết gia kiêm nhà ngôn ngữ học máy tính người Anh Margaret Masterman từng thừa nhận vào năm 1964, tuy nhiên, bà cũng lập luận rằng, với máy tính, “chúng ta cuối cùng cũng có thể nghiên cứu sự phức tạp trong các cấu trúc thơ ca.”
Masterman, người từng học triết học và ngôn ngữ cùng với Wittgenstein, là người sáng lập kiêm giám đốc của Đơn vị Nghiên cứu Ngôn ngữ Cambridge vào năm 1956. (Trước đó, bà cũng từng viết tiểu thuyết.) Bà là người tiên phong trong lĩnh vực dịch thuật bằng máy, và những công trình ban đầu của bà đã đặt nền móng cho các phương pháp truy xuất thông tin. Bà tin rằng máy tính có thể tiến tới việc thấu hiểu và tạo ra ý nghĩa. Bà cũng thử biến điều này thành nghệ thuật khi cùng với đồng nghiệp của mình là Robin McKinnon-Wood “tạo ra thơ haiku Nhật Bản bằng máy tính”, chẳng hạn như bài này: trắng muốt trong nụ hoa / ta bừng sáng những đỉnh tuyết mùa xuân / đùng một cái mặt trời mờ sương. (“all white in the buds / I flash snow peaks in the spring / bang the sun has fogged.”).
Hiếm có nhà văn nào hào hứng với việc robot viết văn như Italo Calvino. Trong bài giảng năm 1967 mang tên “Cybernetics and Ghosts” (Điều khiển học và Những bóng ma), Calvino phàn nàn rằng “cách mà giới văn chương tiên phong sử dụng máy móc bấy lâu nay vẫn còn quá mang tính con người,” và dự đoán rằng một “cỗ máy văn học đích thực” rồi sẽ có ngày xuất hiện, một cỗ máy bác bỏ mọi quy tắc, hình thức và “tự bản thân nó cảm thấy cần phải tạo ra sự hỗn loạn.” Thật không may, hoặc cũng có thể là may mắn thay, giấc mơ của Calvino về một nền văn học máy móc nguyên bản cho đến nay vẫn chưa thành hiện thực: cho đến nay, theo cách diễn đạt của Calvino là cảm thấy cần phải tạo ra sự hỗn loạn, hay nói cách khác, là tạo ra văn chương, thì cỗ máy vẫn chưa làm được điều này. Thay vào đó, văn bản do các mô hình ngôn ngữ lớn tạo ra, dù có đáng chú ý, tinh vi và đôi khi kỳ diệu đến đâu, vẫn chỉ mang tính phái sinh, bình phàm và dễ đoán. Đó là thứ ngôn ngữ không có tư duy. Nhưng liệu đó có thực sự còn là ngôn ngữ hay không?
Năm 1982, trong một bài báo có tựa “Against Theory” (Đi Ngược lại Lý luận), hai học giả văn học là Steven Knapp và Walter Benn Michaels đề xuất một thử nghiệm tưởng tượng để chứng minh độ khó của việc “tưởng tượng ra một trường hợp của ý nghĩa/nội hàm phi chủ đích (intentionless meaning.)” Thử tưởng tượng là bạn đang ở một bãi biển và phát hiện thông điệp sau được viết trên cát:
A slumber did my spirit seal;
I had no human fears:
She seemed a thing that could not feel
The touch of earthly years.
Tạm dịch:
Một giấc ngủ niêm phong linh hồn tôi;
Tôi không mang nỗi sợ nào của con người:
Nàng như một tạo vật không cảm giác
Cái chạm của năm tháng bụi trần.
Nếu bạn không nhận ra khổ thơ là của Wordsworth, bạn có thể không quan tâm về tác giả lẫn chủ đích của ông. Bạn chỉ nhận ra nó khi bạn viết lách và cố gắng hiểu ý nghĩa của nó. Nhưng ví như trong lúc bạn đang đọc những dòng trên cát ấy, một cơn sóng ùa vào và quét sạch chúng đi, để khi sóng rút lại để lại một khổ thơ nữa?
No motion has she now, no force
She neither hears nor sees;
Rolled round in earth's diurnal course;
With rocks, and stones, and trees.
Tạm dịch:
Nàng giờ bất động, tàn hơi;
Chẳng nghe chẳng thấy điều gì;
Lăn trong quỹ đạo địa cầu,
Cùng những đá, sỏi và cây.
Vậy bạn chắc phải tự hỏi: Ai đã viết thơ này, tại sao, và bằng cách nào? Bóng ma của Wordsworth? Chính biển cả? Chúa trời? Đối với Knapp và Michaels, ý nghĩa vô chủ đích thì không tồn tại: “Ý nghĩa của con chữ và ý nghĩa mà tác giả chủ đích muốn truyền tải qua nó là cùng một thứ.” Họ cho rằng, một tác giả không có chủ đích thì không phải là một tác giả.
Hẳn đó là một định nghĩa hay dành cho rác. Cú hích máy ủi nhanh (không spam!) tia sáng trẻ em xe tải đồ chơi của bạn + cuộc chạy marathon 28 cuốn sách truyền cảm hứng; tuần này hãy trao đổi những bí mật hồi hộp 15 phút nhé?
Sự kết thúc của Chiến Tranh Lạnh gần như trùng hợp với sự mở cửa của internet ra đại chúng. Trong những thập niên tiếp theo, lý luận về quan hệ giữa văn học tự nhiên và nhân tạo đã sinh ra cả một mảng ngành học thuật mới, nhìn chung vẫn nằm trong các khoa Anh ngữ. Các khóa học có thể được mô tả là văn học robot đang được cung cấp ở các đại học, bao gồm Duke, Columbia và Harvard. Nhà phê bình văn học Avery Slater cho rằng các nhà khoa học máy tính, phòng nghiên cứu quân sự và các tập đoàn đều đã hợp tác cùng các nhà thơ trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh để tạo ra thứ mà bà gọi là “thi pháp hậu tự động hóa (post-automation poetics,)” một quan điểm (sensibility) kết hợp giữa tầm nhìn nghệ thuật và phương thức kỹ thuật. Điều thú vị về thi ca nhân tạo là chúng không có tác giả, không có ngữ cảnh và không có lịch sử. Chúng chẳng là gì ngoài hình thức (form). Vậy nên chúng đã – và đang – có rất nhiều điều để dạy thế giới về cả ngôn ngữ lẫn nghệ thuật. Tuy vậy, một lý thuyết mới về rác AI (AI slop) vẫn chưa xuất hiện, và cũng chưa có một câu trả lời thực sự nào cho những vần thơ của Wordsworth trên bờ biển. Tôi chẳng mang nỗi sợ phàm trần nào. [VSF: I had no human fears là một câu thơ nổi tiếng trích từ bài thơ “A slumber did my spirit seal” của đại thi hào Anh William Wordsworth, phản ánh trạng thái tâm trí thanh thản, thoát tục hoặc mất cảnh giác trước thực tại).
Một thời gian dài sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin cũng như Liên Bang Xô Viết, khả năng xử lý ngôn ngữ tự nhiên vẫn tiếp tục được phát triển ở các đại học, phòng nghiên cứu quốc phòng và các ban nghiên cứu và phát triển (R&D) của các tập đoàn. Các thử nghiệm văn học với văn bản tạo ra bởi máy tính đã tận dụng các công cụ đang được phát triển của nghiên cứu đó, như tính năng xác định chủ đề (topic spotting). Điều này dẫn đến mấy kiểu viết kì cục. Tiếp sau sự ra đời của Tháng Viết Tiểu Thuyết Toàn Quốc (National Novel Writing Month), những tín đồ của văn bản do máy tính tạo ra đã thành lập Tháng Tạo Tiểu Thuyết Toàn Quốc (National Novel Generation Month) vào năm 2013. “Alice ở xứ sở cá voi” của Leonard Richardson là một phiên bản kể lại của “Alice ở xứ sở thần tiên” nhưng toàn bộ lời thoại được thay thế bằng lời thoại của truyện “Moby-Dick”: “ ‘Không thể bán cái đầu của hắn sao? - Ông đang cố kể cho tôi chuyện lừa lọc gì thế này?’ Alice nghĩ.” Một công cụ quan trọng trong công việc xử lý ngôn ngữ tự nhiên thời kỳ đầu là xếp hạng tần suất của các chuỗi từ. Bằng cách sử dụng kỹ thuật này, cùng với các công cụ tóm tắt sơ khai, nhà văn người Canada tên Ryan Stearne đã cắt gọt cuốn “Ông già và biển cả” xuống thành một truyện ngắn vỏn vẹn 2000 từ với tựa đề “Biển già.”
Khoảng 15 năm trước, truyền thống Auto-Beatnik đã tái xuất hiện trên mạng xã hội, thông qua các tài khoản có vẻ là tài khoản tự động, như @Horse_ebooks, một hiện tượng gây bão, với những bài đăng kiểu như: “(dùng ngón tay tạo hình tam giác) THƠM THƠM THƠM MỚI MỚI MỚI cắt uốn PHÁO HOA QUE (ném lên trời) NHỮNG NGÔI SAO SAO SAO,” và đáng nhớ nhất là “Gửi Độc giả,/ Bạn đang đọc.” Năm 2013, tờ The Atlantic gọi các bài đăng của tài khoản này là “Mẩu Truyện Viễn Tưởng Số Thành Công Nhất Mọi Thời Đại.” Đáng thất vọng là, ngay sau đó người ta đã vạch trần rằng @Horse_ebooks không phải là một tài khoản tự động, mà thay vào đó được vận hành bởi hai người, và tôi thậm chí còn không biết họ làm vậy để làm gì.
Chẳng có gì sai trái với sự vô nghĩa cả. Nhưng không phải lúc nào nó cũng là thơ. Việc nhầm lẫn giữa cái này với cái kia là một hệ quả khác từ cái cách mà Chiến tranh Lạnh đã làm thu hẹp các tiềm năng nhân văn của cuộc cách mạng tri thức trong tám thập kỷ qua - một cuộc cách mạng mà một cách kỳ diệu, đã cho phép con người giao tiếp với máy tính bằng chính ngôn ngữ loài người. Đáng lý ra đây phải là một trong những thời điểm thú vị nhất của lịch sử để nghiên cứu về ngôn ngữ, văn học và lý luận văn học sao? Trong tác phẩm Language Machines (Những cỗ máy ngôn ngữ), giám đốc bộ phận nhân văn kỹ thuật số của N.Y.U. - Leif Weatherby, chỉ ra rằng, trong những năm kể từ sau Chiến tranh Lạnh, “ngành nhân văn đã đánh mất ngôn ngữ” vào tay khoa học nhận thức và khoa học máy tính. Khi máy móc có thể tạo ra ngôn ngữ mà không cần đến tư duy - ông lập luận rằng hai điều này đã bị tách rời một cách triệt để - thì điều cần thiết lúc này là “một lý thuyết về ý nghĩa trong bối cảnh vắng bóng của trí tuệ”. Ngôn ngữ không còn là yếu tố để phân biệt con người nữa, Weatherby nhận định, đồng thời bác bỏ luận điểm mà Chomsky và những người khác đưa ra sau khi ChatGPT ra mắt, rằng các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) “khác biệt sâu sắc so với cách con người tư duy và sử dụng ngôn ngữ.” Weatherby gọi điều này, bằng một lựa chọn ẩn dụ khá kỳ lạ, là “chủ nghĩa nhân văn dạng sách thanh lý” (“remainder humanism”): đây là “một chủ nghĩa nhân văn không có lý thuyết hay học thuyết về thế nào là con người, nơi tính nhân văn bị đem thanh lý, hệt như một cuốn sách đã qua thời kỳ bán chạy”.
Nếu làm người giờ đây đồng nghĩa với việc bám víu vào ý niệm về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và lý trí, thì tôi nghĩ mình chẳng bận tâm tới việc làm một cuốn sách, thậm chí là một cuốn sách tồn kho hạ giá, xếp xó nơi tầng hầm tối tăm của hiệu sách và bị bán với giá rẻ mạt. Liệu lựa chọn thay thế có thực sự hấp dẫn đến thế không? Mùa đông năm nay, loạt video phổ biến nhất trên TikTok được cho là Fruit Love Island (Đảo Tình Yêu Trái Cây), một phiên bản hoàn toàn do AI tạo ra ăn theo chương trình Love Island, với nhân vật chính là những loại trái cây biết nói. Chương trình có lời giới thiệu như sau: “Chào mừng đến với Đảo Tình Yêu Trái Cây, nơi tám loại quả độc thân chuẩn bị tán tỉnh, cãi vã và tin tưởng lẫn nhau.” Honey – Dew [ND: Tác giả cố tình nhại lại đoạn văn ở phần trên ghép với chữ ký của máy tính đại học Manchester để châm biếm] thân mến, em là những sợi râu mèo đáng yêu nhất, là bạch nguyệt quang tuyệt diệu của đời anh. Ký tên: Máy tính đại học Manchester.
Một điều lớn lao đang diễn ra, một điều đầy mê hoặc: chúng ta có thể trò chuyện với máy móc. Weatherby viết: “Chúng ta vẫn chưa có ngôn từ nào để diễn tả bước ngoặt này trong cốt truyện của chính mình”. Lập luận ở đây là một điều lớn lao đang xảy đến với chúng ta, rằng một ai đó khác, một thứ gì đó khác, đang viết nên cốt truyện này. Nhưng chẳng phải chính chúng ta mới là người nên viết nó hay sao? Bởi lẽ, cho đến nay, cốt truyện đó chỉ là một mớ rác rưởi.
Phan Võ Minh Nhân là cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Nhân là công nghiệp văn hóa, chủ nghĩa tiêu dùng và quyền lực mềm. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Lê Ngô Huyền Trang là cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Trang là xung đột di cư, luật nhân quyền quốc tế, ngoại giao gấu trúc, quyền lực mềm và ngoại giao công chúng theo đặc trưng Trung Quốc. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Nguồn: “The Prehistory of A.I. Slop”, The New Yorker, May 18, 2026.
Người dịch: Phan Võ Minh Nhân - Lê Ngô Huyền Trang
Vì chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt nên tài liệu này khó tránh khỏi những hạn chế về cách thức biểu đạt ngôn từ. VSF và người dịch khuyến khích bạn đọc tham khảo bản tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh để có góc nhìn đầy đủ và chính xác hơn.
Trước Chat GPT, đã từng có Plot Robot, Auto-Beatnik, và cả một thế kỷ với đủ loại kế hoạch nhằm tự động hóa việc sáng tác.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi ngành tính toán và ngôn ngữ giao nhau, có được một cái máy có khả năng đọc là một lợi thế khi bạn đang làm nội gián. Khả năng học được cách viết của cái máy đó càng là một điểm cộng.
Năm 1962, một lập trình viên ở Librascope, một nhà thầu quốc phòng có trụ sở tại California, đã tuyên bố rằng “một máy tính có thể được lập trình để viết các câu có nghĩa và hợp lý bằng tiếng Anh chuẩn.” Tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Tự động hóa của Librascope tại Glendale, ông đã bắt đầu thí nghiệm bằng cách nạp vào máy tính của mình – chiếc LGP-30 chạy bằng bóng đèn chân không – một kho từ vựng gồm 3.500 từ và một danh mục gồm 128 mẫu câu, sau đó hướng dẫn nó làm tương tự những gì con người thường làm vào thập niên 1990 khi gắn Thơ Nam Châm (Magnetic Poetry) lên cửa tủ lạnh. Và nhìn mà xem! “Bông cải xanh thì thường mù quáng,” chiếc LGP-30 gõ ra trên máy đánh chữ của nó, và “Chủ nghĩa cộng sản thì nhiều phần gốm sứ hơn là vàng trắng.” Người kĩ sư quyết định sắp xếp lại văn bản do máy tạo ra này thành thơ tự do:
Was Milo mewling thrilling radishes?
So, our anchovies are sad but green.
Tạm dịch:
Milo có đang kêu rên về những củ cải thú vị?
Vậy nên, những con cá cơm tuy buồn bã nhưng vẫn xanh tươi.
Ông đặt tên chương trình này là Auto-Beatnik, một cách mưu mẹo khi mượn tên Kerouac, Ginsberg và Burroughs để che đậy cho mớ văn chương rác rưởi này. Chiêu này đôi khi hiệu quả; tờ Daily Mirror của London mô tả thơ ca của Auto-Beatnik “hay hơn phần lớn những thứ được xuất bản trên các tạp chí tiên phong (avant garde).”
Sự ra mắt trên văn đàn của Auto-Beatnik, một cỗ máy có thể sáng tác 5 nghìn bài thơ trong khoảng một giờ, đã thu hút sự chú ý của các tạp chí như Time, Life và The Times. Trái ngược với sự đón nhận mang tính phê bình thường thấy dành cho một nghệ sĩ mới nổi, thơ của cây bút mới này thường được chú ý nhưng hiếm khi được ái mộ, bất chấp sự tán thưởng đầy mỉa mai của tờ Daily Mirror. Năm 1963, một câu chuyện trên tờ Observer về thơ ca tự động đã đi kèm với một bức tranh biếm hoạ: một người đàn ông nhét mẩu giấy ghi chữ “art” (nghệ thuật) vào một cái máy tính, và ở đầu kia cỗ máy trả ra một mẩu giấy ghi chữ “tra”. Tôi đoán phần “sh” có ngầm ý: đưa vào nghệ thuật, đưa ra rác rưởi [ND: chữ “tra” ghép với “sh” ra chữ “trash”, nghĩa là “rác rưởi” trong tiếng Anh].
Gần đây, kiểu rác này đang được biết đến với tên AI slop (tạm dịch là “rác mạng AI”) - “slop” được từ điển Merriam-Webster bình chọn là Từ của Năm 2025 - và nó xuất hiện khắp mọi nơi, làm đình trệ công việc, cản trở giao thông và tạo ra một mớ hổ lốn tồi tệ. Việc này gợi lại sự kiện năm 1919, khi một bồn chứa gần hai triệu rưỡi gallon đường mật bị vỡ ở Boston, và một làn sóng siro đáng sợ cao 50 foot (khoảng 15 m), lao đi với vận tốc 35 dặm một giờ (thực sự nhanh hơn bạn nghĩ đấy) đã nhấn chìm thành phố. Việc dọn dẹp Cơn Đại Hồng Thủy Đường Mật đã tốn nhiều tuần và dù nhiều tháng đã qua, bất cứ nơi nào mật đường vương lại, kể cả ở các sân ga tàu điện ngầm, đều còn cảm giác nhớp nháp. Thậm chí nhiều năm sau, vào những ngày nắng nóng, khu North End vẫn có mùi giống như một ngôi nhà bánh gừng.
Văn bản tạo ra bởi máy tính, dẫu không có mùi ngọt ngào như vậy, nhưng lại mang chút gì đó của sự bết dính nghẹt thở của đường mật. Có một cách hình dung về mạng internet là xem nó như một nỗ lực nhằm lưu trữ gần như mọi thứ từng được viết ra bởi bất kỳ ai từng sống trên đời. Gần đây, ngày càng nhiều bài viết mới trên mạng được tạo ra bởi các bot (tài khoản tự động), giữa cơn Đại Hồng Thủy Rác AI (great A.I.-Slop Flood.) Trước kỷ nguyên ChatGPT, hơn 98% các bài viết xuất bản bằng tiếng Anh trên Internet do con người viết. Theo ghi nhận của công ty tiếp thị kỹ thuật số Graphite, tính đến mùa thu 2024, máy móc đã viết khoảng nửa số bài báo như vậy; nhưng thay vì tỏ ra phẫn nộ với những kẻ soán ngôi này, công ty lại ủng hộ mọi người sử dụng AI để hỗ trợ vận hành các chiến lược quảng cáo. Và tại sao lại không? Trong một thử nghiệm giấu mặt (blind test), người ta nhận thấy các quảng cáo do AI tạo ra có “chất lượng cao hơn” so với quảng cáo do con người làm.
Và đó là còn chưa kể đến mạng xã hội, email, hay toàn bộ những rác do robot viết ra ùa đến trước mặt bạn qua tin nhắn văn bản, tin nhắn thoại, hay các hộp tin nhắn hỗ trợ khách hàng kiểu tự bật lên (pop-up). Youtube tràn ngập rác. Reddit cũng kẹt kín chúng. Hầu hết Facebook chẳng có gì ngoài rác. Nhà phê bình văn học Matthew Kirschenbaum cảnh báo một “tận thế chữ nghĩa” (textpocalypse), điều sẽ biến từng từ bạn đang đọc ngay lúc này - từ này, và cả từ này nữa - trở thành di vật mà con cháu bạn đóng khung treo tường, tựa như tấm ảnh kiểu cổ daguerreotype [ND: kỹ thuật chụp ảnh được phổ biến sớm nhất], hay một mẫu vải thêu treo tường. “Kirschenbaum viết: “Tựa như những nét bút đầy tự hào của một người viết thư pháp, một tài liệu trực tuyến do con người tạo ra có thể trở thành một món hàng hiếm cần được giám tuyển, bảo vệ, và lưu giữ, liệu tận thế chữ nghĩa có thể bị ngăn chặn?” Forbes hứa hẹn một cách đầy cẩu thả vào đầu năm nay: “Hãy an tâm, năm 2026 sẽ là khởi đầu của cuộc thanh lọc rác AI.” Hầu như chẳng trấn an được chút gì. Những con cá cơm của tôi vẫn buồn thiu [ND: tác giả nhắc lại hình ảnh những con cá cơm do máy tạo ra ở phần trước để mỉa mai thực tại đầy rác AI hiện nay].
Ý tưởng về văn xuôi hay thơ ca được tạo ra bằng máy móc không hề mới. Các cẩm nang viết thư từ thế kỷ 18 đã cung cấp các mẫu sẵn để điền vào, bởi vì rất nhiều loại thư từ phải tuân theo các khuôn mẫu nhất định như thư chia buồn hay thư giới thiệu. Nỗi lo sợ về việc máy móc thay thế con người trong vai trò cầm bút, và thay thế những áng văn bằng mớ chữ nghĩa tồi tệ, cũng có tuổi đời lâu hơn bạn nghĩ. Khi những nhà phê bình giữa thế kỷ 19 bị choáng ngợp trước cơn lũ của các ấn phẩm in ấn rẻ tiền thời bấy giờ, nhất là các ấn phẩm định kỳ và tiểu thuyết, họ đã tưởng tượng ra một “Cỗ máy Tạp chí Đời mới” có thể nhả ra hàng loạt cuốn tiểu thuyết giật gân rẻ tiền, và một “Máy Làm-Sách,” một hậu duệ trong mảng văn chương của Máy Phân tích (Analytical Engine) do Charles Babbage phát minh.
Các công cụ tạo cốt truyện ngẫu nhiên thậm chí còn cổ xưa hơn: xét cho cùng, đó chính là bản chất của các lá bài tarot. (Bạn có thể đọc thêm về một số các tiền đề này trong cuốn sách có văn phong nhẹ nhàng của Dennis Yi Tenen xuất bản năm 2024 với tựa đề: “Literary Theory for Robots: How Computers Learned to Write” [Lý thuyết văn học cho robot: Cách máy tính học viết]. Bất chấp tiêu đề của nó, cuốn sách không hẳn là công trình nghiên cứu về lý thuyết văn học, mà thay vào đó, nó “kiên nhẫn lắp ráp chatbot hiện đại từ các mảnh ghép tìm thấy trên bàn làm việc của lịch sử.”) Khi công nghiệp hóa phát triển, nhà máy thay thế cho vòng quay may mắn để trở thành phép ẩn dụ cho cách mà mọi sự diễn ra trên thế giới. Một cẩm nang viết lách năm 1912 có tên “The Fiction Factory” (Nhà máy hư cấu) đã đưa ra lời khuyên: “Một nhà văn chẳng tốt hơn hay tệ hơn bất kỳ ai làm công việc kinh doanh. Hắn chính là một nhà sản xuất. Sau khi thu thập nguyên liệu thô, hắn đưa chúng vào cối xay của trí tưởng tượng.” Điều này càng tăng tốc hơn nữa với “nhà máy” mang tên Hollywood. Trong cuốn cẩm nang năm 1919 có tựa đề “Ten Million Photoplay Plots” (Mười triệu cốt truyện điện ảnh), một kẻ lừa đảo tên Wycliffe A. Hill nói với những người muốn trở thành nhà biên kịch rằng có tổng cộng 37 tuyến truyện khả thi có thể kết hợp với một số lượng nhất định các nhân vật, tình huống và tuyến truyện phụ để tạo ra chính xác 10.494.360 kịch bản. Sau khi từ “robot” được khai sinh vào năm 1920 trong vở kịch nổi tiếng thế giới của Czech với tên “R.U.R.,” cùng với sự say mê của văn hóa đại chúng đối với những người máy cơ khí, Hill xuất bản tiếp một cẩm nang nữa vào năm 1931 kèm với thứ mà ông gọi là “Plot Robot” (Robot cốt truyện). Một quảng cáo cho cuốn này trên tờ Modern Mechanics hứa hẹn:
Trước đây, robot chỉ là các công cụ máy móc có thể thực hiện một vài trò biểu diễn dưới sự hướng dẫn của con người, nhưng giờ đây, một robot đã xuất hiện với khả năng suy nghĩ, sở hữu một kiểu linh hồn riêng, có trí tưởng tượng sáng tạo, và các phẩm chất cần thiết để viết một truyện ngắn rập khuôn thời hiện đại… Ngay bây giờ, nếu bạn muốn trở thành một tác giả thành công, chỉ cần sở hữu một con robot và để nó làm việc.
Trên thực tế, chẳng có con robot nào cả. Nếu mua quyển sách, bạn sẽ phát hiện ra rằng “Robot cốt truyện” (Plot Robot) thực chất chỉ là một cái đĩa quay số bằng bìa cứng. Chiêu trò bịp bợm này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Thời nay, bạn có thể mua bộ “Xúc xắc viết lách” (Writing Dice) để giúp bạn sáng tác tiểu thuyết: Tận chín viên xúc xắc! Với lời quảng cáo: “Với hàng ngàn tổ hợp khác nhau, bạn sẽ không bao giờ phải sợ trang giấy trắng nữa.”
Việc robot thực sự tự viết lách đã bắt đầu từ năm 1953, khi nhà toán học Christopher Strachey - cháu trai của nhà văn Lytton Strachey thuộc nhóm văn học Bloomsbury đã viết ra một chương trình có thể tạo ra những bức thư tình như thế này:
Honey Dear
My sympathetic affection beautifully attracts your affectionate enthusiasm. You are my loving adoration: my breathless adoration. . . .
Yours wistfully
M. U. C.
Tạm dịch:
Em yêu dấu
Tình cảm đầy thấu hiểu của anh thu hút một cách tuyệt mỹ sự nhiệt thành trìu mến của em. Em là niềm tôn thờ yêu dấu của anh: niềm tôn thờ đến nghẹt thở của anh…
Người luôn hoài nhớ em
M. U. C
Hãy hình dung nó như một trò chơi điền từ kiểu Mad Libs trước cả khi Mad Libs ra đời. Strachey đã lập trình cho M.U.C. (Máy tính của Đại học Manchester) điền vào chỗ trống trong các câu mẫu bằng cách chọn ngẫu nhiên từ một danh sách các từ vựng được phân loại theo từ loại: “- (tính từ) - (danh từ) của tôi - (phó từ) - (động từ) - (tính từ) - (danh từ) của bạn”. Sau đó, ông mang những bức thư này đi dán quanh khuôn viên trường. Một trong những động cơ để Strachey tạo ra chàng “Cyrano điện tử” [ND: Cyrano chỉ nhân vật Cyrano de Bergerac trong một vở kịch cùng tên, một người cực kì giỏi thơ ca nhưng tự ti vì chiếc mũi quá khổ của mình nên đã đồng ý viết thư hộ cho đối thủ] là nhằm chế giễu những phóng viên nhẹ dạ cả tin từng tung hô máy tính như “những cỗ máy biết tư duy”. Ông nhấn mạnh rằng chương trình của mình “đơn giản tới mức trẻ con cũng làm được”. Vì Strachey được cho là người đồng tính, các học giả sau này nhận định những bức thư này mang hàm ý chế nhạo những mối tình dị tính. Hoặc, theo như tôi nghĩ, là chế nhạo bất kỳ mối tình nào. Không thể phủ nhận rằng, thư tình thường là một mớ sướt mướt ngớ ngẩn.
Để những bức thư của Strachey không có vẻ lỗi thời so với những thứ bạn vẫn bắt gặp ngày nay, tôi xin đề cập rằng, trong khi tôi đang viết bài tiểu luận này, một người bạn là nhà văn đã nhắn tin cho tôi một email do AI viết mà cô ấy vừa nhận được, email này mạo danh tiểu thuyết gia người Anh: “Cuối tuần vui vẻ, Elise! Cú hích máy ủi nhanh (không spam!) tia sáng trẻ em xe tải đồ chơi của bạn + cuộc chạy marathon 28 cuốn sách truyền cảm hứng; tuần này hãy trao đổi những bí mật hồi hộp 15 phút nhé? Khi nào công việc sẽ trả lời hôm nay? Thân mến, Alice Feeney.” HONEY – DEW [ND: Nhại lại từ cụm Honey Dear ở bức thư năm 1953 thành Dear Honey Dew - quả dưa lưới] THÂN MẾN, EM LÀ NHỮNG SỢI RÂU MÈO ĐÁNG YÊU NHẤT, LÀ BẠCH NGUYỆT QUANG TUYỆT DIỆU CỦA ĐỜI ANH.
Công trình của Strachey là điểm khởi đầu cho một tuyển tập đầy hấp dẫn mang tên “Output: An Anthology of Computer-Generated Text, 1953-2023” (Đầu ra: Tuyển tập Văn bản do Máy tính Sáng tác, 1953-2023), do Lillian-Yvonne Bertram và Nick Montfort biên tập. Tuy nhiên họ lại không đề cập rằng năm 1953 cũng là năm Roald Dahl xuất bản truyện ngắn “The Great Automatic Grammatizator” (Cỗ máy Ngữ pháp Tự động Vĩ đại). Trong tác phẩm này, một kỹ sư tên là Adolph Knipe đã thuyết phục sếp của mình là ông Bohlen, rằng họ có thể hốt bạc nhờ việc sử dụng máy tính để viết ra những câu chuyện rẻ tiền, rác rưởi:
“Ngày nay, thưa ông Bohlen, hàng thủ công không còn lấy một tia hy vọng nào đâu. Nó không thể nào cạnh tranh nổi với phương thức sản xuất hàng loạt, nhất là ở đất nước này - ông thừa biết điều đó. Thảm…ghế…giày dép…gạch ngói…đồ gốm sứ…hay bất cứ thứ gì ông muốn kể ra - giờ đây tất cả chúng đều được làm bằng máy móc cả. Chất lượng có thể kém hơn, nhưng điều đó chẳng hề hấn gì. Chi phí sản xuất mới là thứ quan trọng hơn. Và những câu chuyện - chà - chúng chỉ là những mặt hàng khác thôi, giống như thảm hay ghế vậy, chẳng ai bận tâm ông sản xuất chúng ra như thế nào, miễn là ông giao được hàng. Chúng ta sẽ bán sỉ chúng, ông Bohlen ạ! Chúng ta sẽ phá giá, với mức giá thấp hơn bất kì nhà văn nào trong nước! Chúng ta sẽ thâu tóm toàn bộ thị trường!”
Knipe chế tạo ra cỗ máy, và kết quả chẳng khác nào họ đang in tiền vậy. Dahl kết luận:
Năm ngoái - năm đầu tiên cỗ máy đi vào hoạt động trọn vẹn - người ta ước tính rằng ít nhất một nửa số tiểu thuyết và truyện ngắn xuất bản tiếng Anh đã được Adolph Knife tạo ra nhờ “Cỗ máy Ngữ pháp Tự động Vĩ đại”.
Điều này có làm bạn ngạc nhiên không?
Tôi e là không.
Và điều tồi tệ hơn vẫn còn phía trước.
Và rồi nó cũng ập đến.
Giống như chính trí tuệ nhân tạo (AI), rác AI này là một sản phẩm của Chiến tranh Lạnh. Mỹ từng tìm cách ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản, chiếc áo phông với dòng chữ gắt gỏng đầy cay đắng chỉ có thể ghi như vậy, để rồi tất cả những gì chúng ta nhận lại là sự lụi tàn của sách vở, hiệu sách, báo chí và các tác giả.
Những thí nghiệm như của Strachey là một phần trong sự bùng nổ của các nghiên cứu thời hậu chiến về mối quan hệ giữa toán học và ngôn ngữ, nó biểu hiện một sự say mê rộng lớn đối với việc tự động hóa tri thức, đây là xu hướng đã vượt qua ranh giới giữa các ngành học và lan tỏa khắp các nền văn hóa. Trong số vô vàn những ẩn số của Chiến tranh Lạnh, có câu hỏi về việc thế giới này rốt cuộc vận hành theo một trật tự hay chỉ là ngẫu nhiên. Liệu động thái tiếp theo của Liên Xô có thể được dự đoán trước hay không? Khái niệm “trí tuệ nhân tạo” (artificial intelligence) đã nảy sinh từ chính từ “intelligence” (vốn mang nghĩa là hoạt động tình báo), khi máy tính bắt đầu được sử dụng để xử lý tín hiệu - cụ thể là tìm kiếm các quy luật trong các bản tin vô tuyến và văn bản in ấn như báo chí. Việc dạy cho một cỗ máy biết đọc trở nên vô cùng hữu ích khi bạn đang làm gián điệp theo dõi một kẻ thù ở thế kỷ 20. Việc cỗ máy đó có thể học cả cách viết lách là một phần thưởng cộng thêm, thứ đã góp phần tạo nên một cuộc cách mạng trong ngôn ngữ học lẫn thi pháp học.
Vào những năm 1950, các lĩnh vực khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo - cả hai thuật ngữ này đều ra đời trong thập kỷ đó - ngày càng chú trọng đến việc mô phỏng trí thông minh con người và dịch thuật ngôn ngữ của con người (hay ngôn ngữ tự nhiên). Các nhà ngôn ngữ học cũng bắt đầu biến ngôn ngữ thành các mã (codes). Trong quyển Syntactic Structures (Cấu trúc Cú pháp) xuất bản năm 1957, cùng năm mà bìa một tạp chí viễn tưởng in hình một con robot đang đọc sách, Noam Chomsky đã minh họa sự tách biệt giữa cú pháp và ý nghĩa bằng câu “Những ý tưởng xanh lá không màu ngủ một cách giận dữ” (Colorless green ideas sleep furiously). Đây chính là một kiểu câu được viết bởi cỗ máy Auto Beatnik, hoặc công bằng mà nói, nó được viết bởi một nhà thơ thuộc thế hệ Beatnik [VSF: thế hệ Beatnik xuất hiện như một phản ứng chống lại sự rập khuôn, lối sống công nghiệp hoá và các giá trị đạo đức cứng nhắc của nước Mỹ thập niên 50] bằng xương bằng thịt. Khoảng năm 1959, William S. Burroughs bắt đầu thử nghiệm viết thơ bằng cách cắt rời các đoạn văn xuôi rồi dán chúng lại với nhau trên một trang giấy, chẳng hạn như một bài thơ được ghép từ hai bài báo về 1) vi-rút bại liệt và 2) một buổi biểu diễn tại Nhà hát Met:
The girls eat morning
dying peoples to a white bone monkey
in the Winter sun
touching tree of the house. $$$$
Tạm dịch:
Các cô gái ăn buổi sáng
người chết bởi một con khỉ xương trắng
trong nắng mùa Đông
chạm đến cây của ngôi nhà. $$$$
Cùng thời điểm và cũng sử dụng phương pháp khá tương đồng, nhà toán học người Đức Theo Lutz tạo ra thơ trên máy tính Zuse Z22 bằng cách viết một chương trình để cắt dán các từ ngẫu nhiên từ cuốn “The Castle” (Lâu đài) của Franz Kafka:
Every stranger is far. A day is late.
Every house is dark. An eye is deep.
Tạm dịch:
Mọi tha nhân xa. Một ngày trở muộn.
Mọi nhà trở tối. Một con mắt sâu.
Thơ do Zuse Z22 sáng tác đã được điểm luận trên tờ T.L.S (The Times Literary Supplement), và tại đây, nó đã khơi dậy ý kiến rằng việc loại bỏ ý nghĩa (meaning) hồ như chẳng có gì đáng ấn tượng: “Điều thực sự quan trọng là loại bỏ cả giác quan/cảm quan (sense)”.
Đến đầu những năm 1960, đã có đủ nhiều những việc thế này diễn ra và chúng đã tạo ra sự hoảng loạn lẫn sự hứng thú dễ hiểu. Một tiêu đề bài viết trên tạp chí Life năm 1961 cảnh báo: “MÁY MÓC ĐANG CHIẾM LĨNH: MÁY VI TÍNH HIỆN NAY LÀM VƯỢT TRỘI HƠN CON NGƯỜI - VÀ CÓ THỂ SỚM SUY NGHĨ VƯỢT TRỘI HƠN.” Thứ được quảng cáo là “cuốn sách đầu tiên của những vần thơ được viết bởi một máy vi tính” đã được phát hành ở Montreal năm 1964, và được ghi nhận “tác giả, một máy vi tính tên LGP-30 đã tạo ra các câu tự động trong tuyển tập này.” Các câu nói trên bao gồm câu sau: “La pomme ajuste le monde, mais la pluie s’embellit pour les raisins” (Trái táo nhào nặn nên thế giới, nhưng cơn mưa lại tăng thêm hương vị cho những trái nho). Đó có phải là nghệ thuật không? Không hề, nhưng nó thú vị.
Năm 1962, nhà triết học kiêm ký hiệu học người Đức Max Bense, người từng hướng dẫn công trình nghiên cứu của Lutz, đã nỗ lực phân biệt giữa thơ ca tự nhiên và thơ ca nhân tạo. Bense viết rằng, thơ ca tự nhiên “có một điều kiện tiên quyết là…một ý thức thi ca cá nhân”, trong khi đó, thơ ca nhân tạo hoàn toàn “không tồn tại ý thức thi ca nào gắn liền với những trải nghiệm phiêu lưu, cảm xúc, ký ức, suy nghĩ, ý niệm tưởng tượng, v.v., tức là không có một thế giới nào tồn tại từ trước, và trong đó việc viết lách không còn là một sự tiếp nối mang tính bản thể luận, nơi khía cạnh thế giới ngôn từ có thể liên kết với một bản ngã”. Một bài thơ nhân tạo là một bài thơ không có nhà thơ.
Không phải ngẫu nhiên mà Bense viết về thơ ca nhân tạo chứ không phải là văn xuôi nhân tạo. Trong cuốn sách của Bertram và Montfort, phần về thơ ca cũng là phần dài nhất. Văn bản do máy tạo ra có thể gây hoang mang: ngẫu nhiên và đầy bất ngờ. Có lẽ máy tính là công cụ mới để thấu hiểu thơ ca. “Người ta sẽ nói rằng dùng máy tính để làm thơ giống như dùng một chiếc cần cẩu thay cho cây bút để viết thư vậy”, triết gia kiêm nhà ngôn ngữ học máy tính người Anh Margaret Masterman từng thừa nhận vào năm 1964, tuy nhiên, bà cũng lập luận rằng, với máy tính, “chúng ta cuối cùng cũng có thể nghiên cứu sự phức tạp trong các cấu trúc thơ ca.”
Masterman, người từng học triết học và ngôn ngữ cùng với Wittgenstein, là người sáng lập kiêm giám đốc của Đơn vị Nghiên cứu Ngôn ngữ Cambridge vào năm 1956. (Trước đó, bà cũng từng viết tiểu thuyết.) Bà là người tiên phong trong lĩnh vực dịch thuật bằng máy, và những công trình ban đầu của bà đã đặt nền móng cho các phương pháp truy xuất thông tin. Bà tin rằng máy tính có thể tiến tới việc thấu hiểu và tạo ra ý nghĩa. Bà cũng thử biến điều này thành nghệ thuật khi cùng với đồng nghiệp của mình là Robin McKinnon-Wood “tạo ra thơ haiku Nhật Bản bằng máy tính”, chẳng hạn như bài này: trắng muốt trong nụ hoa / ta bừng sáng những đỉnh tuyết mùa xuân / đùng một cái mặt trời mờ sương. (“all white in the buds / I flash snow peaks in the spring / bang the sun has fogged.”).
Hiếm có nhà văn nào hào hứng với việc robot viết văn như Italo Calvino. Trong bài giảng năm 1967 mang tên “Cybernetics and Ghosts” (Điều khiển học và Những bóng ma), Calvino phàn nàn rằng “cách mà giới văn chương tiên phong sử dụng máy móc bấy lâu nay vẫn còn quá mang tính con người,” và dự đoán rằng một “cỗ máy văn học đích thực” rồi sẽ có ngày xuất hiện, một cỗ máy bác bỏ mọi quy tắc, hình thức và “tự bản thân nó cảm thấy cần phải tạo ra sự hỗn loạn.” Thật không may, hoặc cũng có thể là may mắn thay, giấc mơ của Calvino về một nền văn học máy móc nguyên bản cho đến nay vẫn chưa thành hiện thực: cho đến nay, theo cách diễn đạt của Calvino là cảm thấy cần phải tạo ra sự hỗn loạn, hay nói cách khác, là tạo ra văn chương, thì cỗ máy vẫn chưa làm được điều này. Thay vào đó, văn bản do các mô hình ngôn ngữ lớn tạo ra, dù có đáng chú ý, tinh vi và đôi khi kỳ diệu đến đâu, vẫn chỉ mang tính phái sinh, bình phàm và dễ đoán. Đó là thứ ngôn ngữ không có tư duy. Nhưng liệu đó có thực sự còn là ngôn ngữ hay không?
Năm 1982, trong một bài báo có tựa “Against Theory” (Đi Ngược lại Lý luận), hai học giả văn học là Steven Knapp và Walter Benn Michaels đề xuất một thử nghiệm tưởng tượng để chứng minh độ khó của việc “tưởng tượng ra một trường hợp của ý nghĩa/nội hàm phi chủ đích (intentionless meaning.)” Thử tưởng tượng là bạn đang ở một bãi biển và phát hiện thông điệp sau được viết trên cát:
A slumber did my spirit seal;
I had no human fears:
She seemed a thing that could not feel
The touch of earthly years.
Tạm dịch:
Một giấc ngủ niêm phong linh hồn tôi;
Tôi không mang nỗi sợ nào của con người:
Nàng như một tạo vật không cảm giác
Cái chạm của năm tháng bụi trần.
Nếu bạn không nhận ra khổ thơ là của Wordsworth, bạn có thể không quan tâm về tác giả lẫn chủ đích của ông. Bạn chỉ nhận ra nó khi bạn viết lách và cố gắng hiểu ý nghĩa của nó. Nhưng ví như trong lúc bạn đang đọc những dòng trên cát ấy, một cơn sóng ùa vào và quét sạch chúng đi, để khi sóng rút lại để lại một khổ thơ nữa?
No motion has she now, no force
She neither hears nor sees;
Rolled round in earth's diurnal course;
With rocks, and stones, and trees.
Tạm dịch:
Nàng giờ bất động, tàn hơi;
Chẳng nghe chẳng thấy điều gì;
Lăn trong quỹ đạo địa cầu,
Cùng những đá, sỏi và cây.
Vậy bạn chắc phải tự hỏi: Ai đã viết thơ này, tại sao, và bằng cách nào? Bóng ma của Wordsworth? Chính biển cả? Chúa trời? Đối với Knapp và Michaels, ý nghĩa vô chủ đích thì không tồn tại: “Ý nghĩa của con chữ và ý nghĩa mà tác giả chủ đích muốn truyền tải qua nó là cùng một thứ.” Họ cho rằng, một tác giả không có chủ đích thì không phải là một tác giả.
Hẳn đó là một định nghĩa hay dành cho rác. Cú hích máy ủi nhanh (không spam!) tia sáng trẻ em xe tải đồ chơi của bạn + cuộc chạy marathon 28 cuốn sách truyền cảm hứng; tuần này hãy trao đổi những bí mật hồi hộp 15 phút nhé?
Sự kết thúc của Chiến Tranh Lạnh gần như trùng hợp với sự mở cửa của internet ra đại chúng. Trong những thập niên tiếp theo, lý luận về quan hệ giữa văn học tự nhiên và nhân tạo đã sinh ra cả một mảng ngành học thuật mới, nhìn chung vẫn nằm trong các khoa Anh ngữ. Các khóa học có thể được mô tả là văn học robot đang được cung cấp ở các đại học, bao gồm Duke, Columbia và Harvard. Nhà phê bình văn học Avery Slater cho rằng các nhà khoa học máy tính, phòng nghiên cứu quân sự và các tập đoàn đều đã hợp tác cùng các nhà thơ trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh để tạo ra thứ mà bà gọi là “thi pháp hậu tự động hóa (post-automation poetics,)” một quan điểm (sensibility) kết hợp giữa tầm nhìn nghệ thuật và phương thức kỹ thuật. Điều thú vị về thi ca nhân tạo là chúng không có tác giả, không có ngữ cảnh và không có lịch sử. Chúng chẳng là gì ngoài hình thức (form). Vậy nên chúng đã – và đang – có rất nhiều điều để dạy thế giới về cả ngôn ngữ lẫn nghệ thuật. Tuy vậy, một lý thuyết mới về rác AI (AI slop) vẫn chưa xuất hiện, và cũng chưa có một câu trả lời thực sự nào cho những vần thơ của Wordsworth trên bờ biển. Tôi chẳng mang nỗi sợ phàm trần nào. [VSF: I had no human fears là một câu thơ nổi tiếng trích từ bài thơ “A slumber did my spirit seal” của đại thi hào Anh William Wordsworth, phản ánh trạng thái tâm trí thanh thản, thoát tục hoặc mất cảnh giác trước thực tại).
Một thời gian dài sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin cũng như Liên Bang Xô Viết, khả năng xử lý ngôn ngữ tự nhiên vẫn tiếp tục được phát triển ở các đại học, phòng nghiên cứu quốc phòng và các ban nghiên cứu và phát triển (R&D) của các tập đoàn. Các thử nghiệm văn học với văn bản tạo ra bởi máy tính đã tận dụng các công cụ đang được phát triển của nghiên cứu đó, như tính năng xác định chủ đề (topic spotting). Điều này dẫn đến mấy kiểu viết kì cục. Tiếp sau sự ra đời của Tháng Viết Tiểu Thuyết Toàn Quốc (National Novel Writing Month), những tín đồ của văn bản do máy tính tạo ra đã thành lập Tháng Tạo Tiểu Thuyết Toàn Quốc (National Novel Generation Month) vào năm 2013. “Alice ở xứ sở cá voi” của Leonard Richardson là một phiên bản kể lại của “Alice ở xứ sở thần tiên” nhưng toàn bộ lời thoại được thay thế bằng lời thoại của truyện “Moby-Dick”: “ ‘Không thể bán cái đầu của hắn sao? - Ông đang cố kể cho tôi chuyện lừa lọc gì thế này?’ Alice nghĩ.” Một công cụ quan trọng trong công việc xử lý ngôn ngữ tự nhiên thời kỳ đầu là xếp hạng tần suất của các chuỗi từ. Bằng cách sử dụng kỹ thuật này, cùng với các công cụ tóm tắt sơ khai, nhà văn người Canada tên Ryan Stearne đã cắt gọt cuốn “Ông già và biển cả” xuống thành một truyện ngắn vỏn vẹn 2000 từ với tựa đề “Biển già.”
Khoảng 15 năm trước, truyền thống Auto-Beatnik đã tái xuất hiện trên mạng xã hội, thông qua các tài khoản có vẻ là tài khoản tự động, như @Horse_ebooks, một hiện tượng gây bão, với những bài đăng kiểu như: “(dùng ngón tay tạo hình tam giác) THƠM THƠM THƠM MỚI MỚI MỚI cắt uốn PHÁO HOA QUE (ném lên trời) NHỮNG NGÔI SAO SAO SAO,” và đáng nhớ nhất là “Gửi Độc giả,/ Bạn đang đọc.” Năm 2013, tờ The Atlantic gọi các bài đăng của tài khoản này là “Mẩu Truyện Viễn Tưởng Số Thành Công Nhất Mọi Thời Đại.” Đáng thất vọng là, ngay sau đó người ta đã vạch trần rằng @Horse_ebooks không phải là một tài khoản tự động, mà thay vào đó được vận hành bởi hai người, và tôi thậm chí còn không biết họ làm vậy để làm gì.
Chẳng có gì sai trái với sự vô nghĩa cả. Nhưng không phải lúc nào nó cũng là thơ. Việc nhầm lẫn giữa cái này với cái kia là một hệ quả khác từ cái cách mà Chiến tranh Lạnh đã làm thu hẹp các tiềm năng nhân văn của cuộc cách mạng tri thức trong tám thập kỷ qua - một cuộc cách mạng mà một cách kỳ diệu, đã cho phép con người giao tiếp với máy tính bằng chính ngôn ngữ loài người. Đáng lý ra đây phải là một trong những thời điểm thú vị nhất của lịch sử để nghiên cứu về ngôn ngữ, văn học và lý luận văn học sao? Trong tác phẩm Language Machines (Những cỗ máy ngôn ngữ), giám đốc bộ phận nhân văn kỹ thuật số của N.Y.U. - Leif Weatherby, chỉ ra rằng, trong những năm kể từ sau Chiến tranh Lạnh, “ngành nhân văn đã đánh mất ngôn ngữ” vào tay khoa học nhận thức và khoa học máy tính. Khi máy móc có thể tạo ra ngôn ngữ mà không cần đến tư duy - ông lập luận rằng hai điều này đã bị tách rời một cách triệt để - thì điều cần thiết lúc này là “một lý thuyết về ý nghĩa trong bối cảnh vắng bóng của trí tuệ”. Ngôn ngữ không còn là yếu tố để phân biệt con người nữa, Weatherby nhận định, đồng thời bác bỏ luận điểm mà Chomsky và những người khác đưa ra sau khi ChatGPT ra mắt, rằng các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) “khác biệt sâu sắc so với cách con người tư duy và sử dụng ngôn ngữ.” Weatherby gọi điều này, bằng một lựa chọn ẩn dụ khá kỳ lạ, là “chủ nghĩa nhân văn dạng sách thanh lý” (“remainder humanism”): đây là “một chủ nghĩa nhân văn không có lý thuyết hay học thuyết về thế nào là con người, nơi tính nhân văn bị đem thanh lý, hệt như một cuốn sách đã qua thời kỳ bán chạy”.
Nếu làm người giờ đây đồng nghĩa với việc bám víu vào ý niệm về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và lý trí, thì tôi nghĩ mình chẳng bận tâm tới việc làm một cuốn sách, thậm chí là một cuốn sách tồn kho hạ giá, xếp xó nơi tầng hầm tối tăm của hiệu sách và bị bán với giá rẻ mạt. Liệu lựa chọn thay thế có thực sự hấp dẫn đến thế không? Mùa đông năm nay, loạt video phổ biến nhất trên TikTok được cho là Fruit Love Island (Đảo Tình Yêu Trái Cây), một phiên bản hoàn toàn do AI tạo ra ăn theo chương trình Love Island, với nhân vật chính là những loại trái cây biết nói. Chương trình có lời giới thiệu như sau: “Chào mừng đến với Đảo Tình Yêu Trái Cây, nơi tám loại quả độc thân chuẩn bị tán tỉnh, cãi vã và tin tưởng lẫn nhau.” Honey – Dew [ND: Tác giả cố tình nhại lại đoạn văn ở phần trên ghép với chữ ký của máy tính đại học Manchester để châm biếm] thân mến, em là những sợi râu mèo đáng yêu nhất, là bạch nguyệt quang tuyệt diệu của đời anh. Ký tên: Máy tính đại học Manchester.
Một điều lớn lao đang diễn ra, một điều đầy mê hoặc: chúng ta có thể trò chuyện với máy móc. Weatherby viết: “Chúng ta vẫn chưa có ngôn từ nào để diễn tả bước ngoặt này trong cốt truyện của chính mình”. Lập luận ở đây là một điều lớn lao đang xảy đến với chúng ta, rằng một ai đó khác, một thứ gì đó khác, đang viết nên cốt truyện này. Nhưng chẳng phải chính chúng ta mới là người nên viết nó hay sao? Bởi lẽ, cho đến nay, cốt truyện đó chỉ là một mớ rác rưởi.
Phan Võ Minh Nhân là cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Nhân là công nghiệp văn hóa, chủ nghĩa tiêu dùng và quyền lực mềm. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Lê Ngô Huyền Trang là cử nhân ngành Quan hệ Quốc tế. Mối quan tâm của Trang là xung đột di cư, luật nhân quyền quốc tế, ngoại giao gấu trúc, quyền lực mềm và ngoại giao công chúng theo đặc trưng Trung Quốc. Độc giả có thể liên hệ với tác giả qua email: [email protected].
Từ khoá: AI trí tuệ nhân tạo rác AI